5/29/09

Tiếng Việt

Viết để dành cho con

Hôm nay trong lớp của Beo có tổ chức một trò chơi gọi là " Teach in a Teaching day". Mỗi đứa sẽ thay phiên lên dạy hay chỉ trong những đứa khác trong lớp bất cứ kỷ năng gì mà mình thích.

Beo suy nghĩ mãi mà vẫn không biết nó sẽ làm gì. Cuối cùng, Beo quyết đinh sẽ dạy vài câu tiếng Việt xã giao . Me khen. Ý kiến hay.

Tối qua, hai mẹ con lên một danh sách vài câu tiếng Việt thông thường, đếm một hai ba.

Anh chàng nằm lăn ra tập viết và tập đoc.

Thấy con khổ sở đánh vần. Mẹ mới ngỡ ngàng là cái tiếng Việt của thằng con trai của me chỉ bằng con số không.

Beo đoc rất khó khăn. Ngay cả việc đếm từ 1 tới 10.

Nhưng thấy con cố gắng, me cũng không tỉ mỉ sửa lai cho hoàn hảo, vì không muốn làm con thất vọng mà nản chí.

Sáng nay, lái xe đưa con đi học. Me hỏi con đã chuẩn bi chưa. Anh chàng lắc đầu. "I do not want to do it". "I cannot do it" .

Me sững sờ, phát cáu lên. Giận mà la con ngay trong xe. Rồi tư nhiên mẹ khóc vì thất vong, buồn, và cô đơn nữa. Hai me con đã tập dợt cưc lực cả đêm hôm qua. Giờ con nói là con làm không đươc. Có vài câu tiếng Việt thông thường. Con mình là Việt Nam. Bì bõm vài câu tiếng Việt không xong. Còn làm quái gì được.

Con thấy me giận. Thì im. Lí nhí là con có backup plan. Con sẽ dạy tui nó xếp máy bay bằng giấy vậy.

Lúc đưa hai đứa tôi trường, nhìn hai anh em dắt nhau tòng teng băng qua đường. Lòng me diu hẵn xuống.

Nó không nói đươc tiếng Việt. Thì nó không có tư tin mà dạy người ta. Nó không thể làm đại khái như người lớn đươc.

Mà nó không nói đươc tiếng Việt. Là tai mình hết. Có phải tai nó đâu mà la nó.

Ừa, tai mình tất.

Hồi còn ở LA, trong nhà có ông bà nội là nói tiếng Việt thường xuyên với hai đứa nhỏ. Me thì nữa Anh nửa Việt. Rồi sau này, me sổ tiếng Anh cho nhanh với hai con.

Ba, hai cô và chú Bin thì hoài toàn xử dung tiếng Anh. Nên hai đứa nhỏ lớn lên trong hoàn cảnh hiểu lõm bõm tiếng Việt me nói, rồi trả lời bằng tiếng Anh.

Me vô đai hoc, rồi cao hoc. Bận hoc tiếng Anh với cuốn từ điển tiếng Việt bên canh. Thì chỉ có thời giờ giúp con hoc tiếng Anh chung với me thôi. Chứ không có thời gian chỉ con hoc tiếng Việt hay dẫn con lên chùa Việt Nam cuối tuần cho con nói tiếng Việt với những đứa trẻ Việt khác.

Bánh Xèo đang hoc lớp hai. Cô giáo của Bánh Xèo là người Mỹ nhưng nói đươc tiếng Việt. Bà sơ Bánh Xèo mất gốc khi biết Bánh Xèo không hề nói đươc một câu tiếng Việt nào. Cái tên Bánh Xèo rất Việt Nam. Mà con mày không nói đươc tiếng Việt. Bà kêu me dẫn Bánh Xèo về Việt Nam đi.

Me cười . Trấn an bà giáo.Đừng lo. Chồng tao lúc mới găp tao. Cũng chẳng nói đươc gì đâu. Nhưng sau này, cái tiếng Việt nữa mỡ nữa nạc , nghe cũng được được lỗ tai.

Nhưng me quên mất là ba ở Việt Nam tới năm 10 tuổi. Nên sau này, nói lại tiếng Việt dễ dàng hơn nhiều.

Hai đứa con của me ở một nơi không hề có bóng người Việt. Hoăc giã có người Việt, thì người ta cũng nói với nhau bằng tiếng Anh. Cho nó nhanh.

Sáng nay mẹ khóc nhiều. Nhớ.

Lúc dẫn Bánh Xèo về Việt Nam vừa rồi, thấy cô nàng không nói được một câu tiếng Việt cho ra hồn, ai cũng trách. Me thì vẫn vô tư. Thì từ từ nó cũng nói đươc thôi. Nó vẫn là Việt Nam mà.

Buổi tối ngủ với Bà ngoai, me kể chuyện cổ tích Viêt Nam cho Bánh Xèo nghe bằng tiếng Anh. Me không biết dich từ trái thị ra tiếng Anh là gì, nên ghép bừa trái thị bằng trái cam ( orange ) khi kể chuyện Tám Cám. Bà ngoai hỏi. Sao không kể cho nó nghe bằng tiếng Việt. Mẹ kêu. Con buồn ngủ quá rồi ( vì thức hát karaoke quá khuya mà). Kể nhanh cho nó đi ngủ. Giờ kể bằng tiếng Việt. Rồi lai phải giải thích bằng tiếng Anh. Chắc tới sáng luôn quá.

Bà ngoai im lăng.

Sáng nay Me nhớ lai. Thì bây giờ me hiểu là chắc lúc đó Bà buồn lắm. Và cũng rất cô đơn như me bây giờ. Vì cháu gái cưng của Bà không nói được với Bà. Con gái cưng của Má thì xì xồ với con gái nó bằng cái thứ tiếng gì gì đó mà mình nghe không đươc. Xa lạ quá. Ngày xưa, bà ngoai kể chuyện Tấm Cám cho mẹ hằng đêm. Mẹ say sưa nghe, mải không chán. Bây giờ, me kễ cho con nghe bằng tiếng Anh. Thì cũng đại khái để thoả mãn trí tò mò con nít. Chứ không bay bổng vàng ảnh vàng anh, hay thị ơi thị rụng bị bà đươc. Con mình không có cái diễm phúc đó. Chỉ vì nó không biết tiếng Việt.


Chẳng phải mẹ chảnh chẹ không muốn con mình học tiếng Việt. Cũng chẳng phải cái vốn tiếng Anh của me hay ho gì để có thể tư tin mà day con.

Nhưng cái vốn tiếng Việt của con đã ep hẹo từ ngày con bé, thì càng lớn, càng mất đi thêm. Con lớn rất nhanh. Hỏi me nhiều hơn. Lắm lúc me phải đi nghiên cứu trên mạng để hoc thêm rồi mới trả lời cho con đươc.Thì cái vốn tiếng Việt của con làm sao đáp ứng đươc cái kiến thức cần thiết của con. Thế là me xài tiếng Anh cho nhanh. Cho xong việc. Rồi cứ phấn khỡi động viên mình tranh thủ học thêm tiếng Anh với con. Nên cái chuyện hoc tiếng Việt của con lại có cớ xếp xó. Mẹ cứ tự nhủ. Mai một tụi nó học. Biết mấy hồi.

Bữa nay, me thấy cái thằng con lớn chồng ngồng của me phát âm líu cà lưỡi từ 1 tới 10. Tim mẹ thắt lai.

Mẹ sai rồi.

Bao nhiêu đề tài me làm toàn là đề cao văn hóa, con người, truyền thuyết, lich sử Việt Nam. Mẹ lúc nào cũng lớn tiếng tự hào mẹ là người Việt Nam, da vàng mũi tẹt.

Thế mà có mỗi việc day con tiếng Việt. Thì hơn 10 năm nay,me làm không đươc. Nhục chưa?

5/28/09

American posters

are familiar?
(click images to enlarge)






are visually powerful ?









are romantically pleasant ?





are provoking you and me to think?




are sad?


are surprisingly presented an-ti Vietnam war attitude this way?


are somehow look like pinko's propaganda ?




are usable in Vietnam. Like.








and finally, this one for me, as a girl artist .

5/26/09

Vườn của Má


Khi nào về nhà, cũng ấm lòng khi nhìn thấy mảnh vườn của Má.Má mát tay.Trồng cây gì xanh um. Vả lai, cái nắng ngoài vườn tràn ngập như thế này.


Thì cây nào mà không xanh lá. Người ta sợ cái nóng kinh hồn của Sài Gòn. Ra đường đôi nón bit mặt kín mít. Cây cỏ vườn Má xí hết phần của nắng. Mới đẹp mê hồn vậy nè.







Nam mới làm cái chòi này . Cho Má. Đẹp không. Trời nóng. Ngồi thu lu, chồm hổm hẳn trong chòi. Nhìn ra xung quanh toàn hoa lá cỏ. Ăn xoài tượng dòn dòn chấm mắm đường, xén thêm miếng tiêu sọ cho thơm. Thế mà không sướng à. Má thường ra đây ngồi vẽ. Lâu lâu hoc trò qua hỏi bài. Má cho hoc trò ngồi vẽ ở đây cả ngày luôn. Tôi thấy tui nó ngồi vẽ với Má. Ghen tị ghê lắm nhá.

Ngóc ngách nào cũng có hoa.








Chuối không phải trong vườn Má. Của nhà hàng xóm.Mượn bỏ vô đây chơi.














Má trồng lan. Tôi hỏi. Tụi ăn trộm không vô ăn cắp lan của Má à. Má thì thào. Tụi nó chưa có thấy.


















Dừa nước.

















Lá trầu ông? nhìn sexy chưa.









Má nói tên cái bông tim tím này. Mà quên mất rồi. Cái tên gì nghe cũng buồn buồn. Mà đep ghê hông. Chỉ biết là nàng này mọc đầy trong vườn. Ngay cả leo đại lên kẽ tường mà nở bông. Nghe Má nói lá của cây nhai nát, đắp lên vết thương, cầm đươc máu.























Lan nè. Mới nở bông. Thơm lắm nha.




Bông giấy. Má thích trồng bông giấy. Trên sân thượng cũng có một cây bông giấy hai màu. Màu cam và trắng.



Hai đứa cháu ngoai phu bà tưới cây buổi sáng.

Phía trên là dàn hoa cát đằng, tím ngát. Sáng nào ong vò vẽ to đùng cũng bay vù vù kiếm mật.Phía trước cửa có một cây sơ ri đầy trái ngọt ngọt chua chua. Cây hoa đai phía trước nở bông trắng thơm ngạt cả mũi. Rớt xuống đất trắng vàng nhụy cả sân.Bông đại thơm ngọt. Kiến đen bu đầy.Với cái Sài Gòn ngạt thở vì khói xe như hiện nay. Về nhà Má. Như lạc vào một công viên , rung rinh đầy hoa và nắng.Kiến và ong vò vẽ nhìn cũng lãng mạn nữa.






Bà nhỏ lần đầu mới biết tưới cây. Ham lắm.














Bánh Xèo dẫn Mẹ ra đây. thỏ thẻ kêu là Mẹ đừng ngạc nhiên. Vì con thích chậu lá này nhứt. Hỏi sao Mẹ phải ngạc nhiên. Vì con gái hay thích hoa. Mà Xèo chỉ thích lá xanh này của Bà thôi.

Chậu to chậu nhỏ, vuông tròn đủ kiểu. Má chăm chút, kệ nệ đem về. Nhành ươm từ những chuyến đi tỉnh, của bạn bè cho, Má nâng niu tay xách nách mang, tô vẽ cho khu vườn của mình.


Cửa sổ nhìn ra, một trời bông hoàng vũ vàng tươi, ngọc ngà rung rinh trong nắng. Nhưng dân ở đây kêu cái loại bông đài cát này bằng một cái tên rất ấn tương. Bông bò cạp.

Buổi sáng ngái mắt thức dậy. Nằm ườn mình nghe tiếng chổi tre lạo xạo êm đềm của Má dưới vườn, nhìn ra ngoài cửa sổ xanh ngát , hít vô cái lạnh lạnh của mùi sương đêm qua quyện nồng với hương thơm của nắng mai buổi sớm.

Thế thì còn đòi gì nữa.

5/25/09

Má (II)

Entry for July 28, 2007

Viết cho Má thương yêu của con

Tôi nhớ Má hay nói, giọng tưng tửng. Má không có thương Ba con đâu. Má lấy đại đó.

Nhiều lúc thấy Má khổ, tôi chỉ muốn hét lên. Tại sao không yêu mà Má lấy Ba làm gì cho khổ vậy Má.

Dần dần, tôi cũng hiểu tai sao và càng thương Má hơn.

Hồi đó, Má tôi là dân tập kết ở ngoài Bắc. Má tôi dạy ở trường Đai Hoc Mỹ Thuật Hà Nội
( trường Mỹ Thuật Thanh Nhạc Hà Nội ngày xưa). Ba tôi là phóng viên chiến trường, công tác ở Đài Phát thanh.

Ba tôi có một người anh rể cũng tập kết. Ông tên Bính. Dân tập kết với nhau, ông Bính thương Má tôi lắm.Ông làm lớn, chức lớn nhất của ông đã là uỷ viên trung ương Đảng rồi. Ông. Nhất đinh bắt ép Má tôi gả cho Ba tôi. Má không ưa. Ông đến thẳng tổ chức của Má xin tác hơp Má với Ba tôi.

Tổ chức bên Má không ưa, kêu Má lên trách móc. Tai sao cô yêu đương mà không báo cáo lại tổ chức. Má ngỡ ngàng.

Thôi thì trường không muốn làm phật lòng ông Bính. Nên đồng ý ...gả. Thiệt là vô duyên. Tổ chức hai bên làm đám cưới cho hai người vào năm 1969.

Má đang làm một cô giáo dạy vẽ, tư do và hạnh phúc với nghề nghiệp của mình, bi ép lấy một người lớn hơn mình chín tuổi.

Ba tôi đẹp trai với cặp lông mày rậm và đôi mắt sâu thăm thẳm.Nhưng ông khó tính, ít cười và hay nhăn nhó.Ông viết chữ rất đẹp, làm văn hay. Ông thích nhâm nhi uống trà, hút thuốc lào và rít chuyện chính trị.

Má tự trấn an mình. Ừa thôi.Mình không yêu.Nhưng bây giờ phải lấy.Kệ.Trước sau gì cũng lấy chồng. Ông lớn hơn mình, làm người anh của mình. Lai là phóng viên, làm nghề báo, cũng văn nghệ văn gừng, chắc sẽ nâng đỡ đươc mình trên con đường nghệ thuật.

Nhưng hai người vẫn không hơp tính. Má là họa sỉ, lãng mạn vi vu kiểu tiểu tư sản. Tức là không có lập trường cách mạng vững chắc. Má lại hay bốp chát nói thẳng, chẳng kiên nể ai.

Ba tôi vừa đảng viên, vừa gia trưởng, hay tính toán, rất khó chịu. Ba còn có tính hay thù vặt nữa.Trước khi lấy Ba, Má có yêu một người đặc công. Yêu nhiều lắm. Nhật ký của Má đầy thơ và bút tích dành cho người yêu. Người yêu Má tử trận trong một cuộc hành quân. Sau này, trong lúc Má không có nhà, Ba tôi đem đốt sạch hết nhật ký , giải quyết một cách thô bạo quá khứ của Má.

Rốt cuộc, Ba má không hề thương nhau. Mà phải làm chuyện vợ chồng với nhau. Sinh tôi năm 1971. Lúc đó, ông Bính mới vỡ lẽ là Ba Má tôi không có hạnh phúc. Ba tôi đi B chắc cũng mấy lần ( đi vào chiến trường miền Nam với tư cách là phóng viên), để Má ở nhà một mình. Kể cả ngày Má sinh tôi cũng vậy. Một người bạn đồng nghiệp trong trường đưa Má đi sanh. Má đặt tôi là Thủy Châu. Má khẽ khàng. Thủy Châu là châu sa lệ nhỏ đó con.

Giây phút hiếm hoi với Ba và Má

Sanh tôi xong. Hai me con còn côi cút hơn vì thiếu người đàn ông trong nhà. Chiều chiều mát mát, hai me con đèo nhau lên ngọn đồi gần nhà ở Thụy Khuê, nằm lăn ra cỏ, nghe gió thổi . Má nhắc lai. Sao lúc đó buồn thật là buồn.

Ông Bính dồn hết tình thương cho tôi, như thể bù đắp lai cái bất hạnh của Má ( mà ông là người gây ra).
Ông đi nước ngoài luôn. Lúc nào cũng đem về quần áo, đồ chơi và quà cáp cho tôi. Cuối tuần, ông cho người lái xe com- măng- ca đến rước hai me con về nhà ông. Ông có ba người con. Mà anh con trai đầu nhỏ hơn Má tôi có vài tuổi. Tính ra, ông thương Má tôi như thương con ông. Và thương tôi như cháu ngoai ông.

Hai mẹ con với ông Bính và cô con gái của ông

Ông Bính mất cuối năm 1973 vì bịnh sưng phổi.Tôi nhớ Má bế tôi ngang hông, lúc đi viếng ông, tôi hỏi Má. Tai sao người ta bỏ dương Hai vô trong cái tủ vậy Má. Má lúc đó đang có bầu thằng Nam.Má ôm tôi, Má khóc. Tôi ngẩn ra lấy tay quẹt nước mắt cho Má. Không dám hỏi nữa.Má ôm hai đứa con , mà chắc trong lòng thấy cô đơn, lạc lõng hơn bao giờ hết.

Má kể. Dượng Hai thương con. Nên lúc chết rồi, dương muốn bắt con đi theo luôn.
Má hay nằm mơ thấy ông Bính về.Có lần ông về. Ông nghiêm nghị hỏi Má. Sao tới ngày giổ của anh mà em không làm mâm cơm cúng anh hả. Má mở choàng mắt. Chạy ra ngoài trời thắp vài nén nhanh, khuấn ông rằng. Tai vì chưa tới ngày. Chứ em không có quên đâu.
Sau đó, tới tháng lãnh lương, Má ra chợ mua đồ về cúng. Vét hết tiền không dám chừa lại một xu nào hết.

Mỗi lần Má nằm mơ thấy ông về, là tôi sốt rất cao. Má sơ. Hay dắt tôi lên chùa vang vái. Lúc Má dắt tôi vào Nam sau 1975, Má mới không nằm mơ thấy ông nữa.

Sau này , vào những giây phút cơ hàn nhứt của bốn me con. Má hay ôm ba đứa vào lòng. Phải chi dượng Hai còn sống. Me con mình đâu đến nỗi này.

Làm tôi chạnh lòng nhớ tới ông.

5/24/09

cờ đỏ cờ vàng

Entry for February 24, 2008

Ban không dám đăng, thì đăng giùm ban

Nhân chuyện có những người nhân danh cho cái gì gì đó đến 1 trường đại học ở California yêu cầu trường đó phải tháo cái cờ đỏ sao vàng (biểu tượng cho nước CHXHCN VN) xuống và treo cờ vàng 3 sọc đỏ (biểu tượng cho nước VN Cộng Hòa) lên. Tui bỗng nghĩ như vầy:

Nên chia VN làm 2 ‘nước’ khác nhau: 1 VNCS và 1 VNCH.

Những ai trưởng thành sau ngày 30/4/1975 tại VNCS, không biết gì về VNCH thì đương nhiên là người của VNCS, và không cớ gì bắt họ phải thừa nhận cái gọi là VNCH, bởi vì đó là 1 cái gì đó không có thật và không hiển hiện trong cuộc đời họ.

Những ai không chấp nhận được VNCS, thì cứ ‘giữ quốc tịch’ VNCH, hoặc ‘nhập quốc tịch’ VNCH và có quyền tự hào về một quá khứ vàng son đã qua, cũng như ôm ấp giấc mơ một ngày vinh quang quay về chốn cũ.

Không ai có quyền xâm phạm đến quyền tự hào về quốc gia mình, nhất là ở trên xứ Mỹ tự do này.

Vậy, nếu có những người thấy chướng mắt thì cứ việc đề nghị treo cả 2 lá cờ của VNCS và VNCH trong cùng 1 trường đại học, và cho rằng đó là 2 quốc gia khác nhau!

Vì nếu treo cờ đỏ sao vàng thì bị người VNCH phản đối, cho rằng như vậy là không thừa nhận VNCH.

Còn nếu treo cờ vàng 3 sọc đỏ thì những người VN di dân mới sau này hoặc du học sinh sẽ thắc mắc tại sao không có cờ đất nước VNCS của mình.

Giả sử các trường đại học đó cảm thấy sao rắc rối quá, cờ VNCH hay VNCS gì cũng không treo nốt, thì khi đó… eo ôi, có 1 nước VN nào tồn tại trên bản đồ thế giới không nhỉ?

Ngoc Lan


Entry for February 24, 2008
Len lén chào cờ

Vu cờ đỏ cờ vàng đang xôn xao bên blog nhà ban Lan. Tôi cũng góp vô mấy câu cho ồn cửa ồn nhà người ta.

Rằng là bây giờ ai muốn treo cờ nào thì treo là khoẻ nhất. Không thích cờ đỏ thì treo cờ vàng. Không ưa cờ vàng thì treo cờ đỏ. Đặt biệt ai mà ưa luôn hai lá cờ thì chắp chắp vá vá lai rồi treo lên.

Mà không ưa luôn cả hai lá cờ thì treo cờ Mỹ . Hoặc không cần phaả treo gì hết là sướng.

Nếu đươc vậy thì quá khỏe rồi. Nhưng sẽ có những người thích treo cờ nhưng sơ bi biểu tình, sơ đi tù hay sơ bi cướp blog ( zụ này nghe chướng tai nhưng tôi thề là có thiệt 100%, nói láo hộc máu chết tai chỗ).

Thì.

Lén lén tà tu lá cờ mà mình ưng vô ngưc trái, hay nếu vẫn còn sơ là đi bơi người ta thấy.

Thì.

Chịu đau một chút. Tà tu cái cờ đó vô thẳng trong trái tim. Rồi lén lén treo lên. Len lén hát quốc ca. Len lén chào. Len lén tự hào vậy. Len lén sướng.

Sau vụ cờ quạt biều tình rầm trời ở Sài Gòn Nhỏ, chồng tôi bắt đầu xử ép tôi ( đã xử mà còn ép nữa, quá khổ lun ).

Là.

" Em mà không nghe lời anh, lạng quạng anh chở em xuống Sài Gòn Nhỏ, trưng em ra trước đám nguời đang biểu tình trước báo Người Việt, là em có tà tu hình cờ đỏ sao vàng, là ngưòi ta đem em ra đấu tố".

Hoảng hồn. Cái tà tu hình cờ đỏ sao vàng tôi có sẵn từ lúc mới đẻ, ai biết đâu nè. Giờ làm sao mà tháo ra .

Nên .

Tôi phải đi tà tu thêm một lá cờ vàng kế bên. Đau thiệt là đau . Nhưng vậy chắc ăn .

Cũng vì vụ mang hai lá cờ trong tim, nên có người khác " chup nón lá" tôi là " nhi trùng gián điêp".

Chơi lun hai bên.

Thì thôi cũng đươc. Nhi trùng hay ba bốn trùng gì cũng đươc. Ai yêu cờ nào , mà là người Việt Nam, biết ăn nước mắm thì tôi cũng thương hết.

Mà tôi cũng chỉ dám thương len lén thôi. Vì chồng tôi ghen kiếp lắm.

À, ban Lan muốn coi hai cái tà tu trong tim của tôi. Đợi vài bữa đi chụp X- ray đã nhá. Rồi coi lun.


thơ vịnh

Không phải tranh của ai cũng đươc người ta làm thơ vịnh đâu nhá. Mà những hai bài, chưa kể những bài dài thòng lòng khác. Mấy cái bài này lần đầu mới vinh hanh đươc đoc.Vu này là bi " ép" nổi tiếng trở lai đó nhá.

RE: Hinh Tac pham Huynh Thuy Chau



2/1/08 8:53 PM as a reply to Anonymous.
tức cảnh,

Nghệ thuật đó mà có sao đâu
Màu vàng ba sọc chẳng rửa đầu
Thì hãy mang ra ,dùng chân rửa,
Cớ chi các bạn phải phát rầu ?
Tết nhất quê người chẳng có chi
Chỉ thấy xuống đường như mọi khi
Đấu tố gì nhau quanh chậu rửa ?
Để tụi Mỹ kia nó khinh khi !
Kiểu này có khi cả ngựa vằn
Các bác đấu tố sẽ hỏi thăm
Sao mày vằn vện như hồn tớ ,
Phải chúng ông đây cứ ngỡ lầm !



Duy đức Lê:
Vịnh tấm hình nghệ thuật của cô
Huỳnh Thủy Châu ,

Chậu rửa chân, một màu vàng chói
Đỏ ba sọc, đã nói lên lời
Hình cờ? hay bể rửa thôi?
Phục vụ dân Mỹ lấy lời nuôi thân!


Mạch điện đỏ, cắm vào ổ điện
Coi chừng nha, đi viện vì đau
Chỉ vì mạch chập theo sau
Mấy chự nổi đóa, hóa đau thế này!
Nghệ thuật mới, sao mà điệu nghệ
Ý tưởng hay, chẳng tệ chi mô
Chắc rằng hai cụ họ Ngô
Hài lòng ở dưới đáy mồ ngợi ca?

Muốn đoc thêm thì click vô đây mà giải trí
thêm nhá. Báo trước, dài, đoc cả ngày vẫn chưa hết nghe chưởi thề đâu nhá.

Adam và Eva

Một người Pháp, một người Mỹ và một người Viêt Nam tranh luận xem Adam và Eva là người nước nào. Người Pháp: “Trần truồng và trụy lạc ngay trước mặt Thượng đế như thế, chỉ có thể là dân Pháp”. Người Mỹ: “Yêu tự do đến mức lẽ ra có thể sống hạnh phúc, chỉ cần đừng đụng đến trái táo, vậy mà họ vẫn không chịu sự cấm đoán đó, thì chỉ có thể là dân Mỹ”. Cuối cùng, người Viêt Nam: “Quần áo chẳng có, nhà cửa chẳng có, thậm chí đến ăn một trái táo cũng bị cấm, thế mà vẫn bảo là sống trên Thiên đường, thì chỉ có thể là dân Việt Nam.

Anh đội viên

Anh đội viên thức dậy,
thấy ba lô mất rồi ,
mà sao bác vẫn ngồi ,
anh nghi ngờ bác lấy ,
bác ơi bác có thấy,
balô của cháu ko ?
Chú làm mất của công,
phải trình lên đảng ủy,
nhưng nể tình đồng chí
Bac bày cho cách này,
nội trong ngay đêm nay,
chôm pa lô thằng khác :))

thỏ

con thỏ đang chạy trong rừng thì gặp chó sói đang hít heroin , thỏ liền nói : anh sói ơi, hãy bỏ những thứ độc hại chết người đó đi và hãy theo tôi đi khắp khu rừng sẽ có nhiều cảnh đẹp và đáng yêu lắm, sói nghe lời và chạy theo thỏ. Đang chạy thì cả 2 gặp cáo đang hút thuốc fiện, thỏ cũng thuyết phục cáo và cáo chạy theo thỏ và sói. Đang đi gặp cọp đang hút cocain, thỏ liền nói " anh cọp ơi, hãy bỏ những thứ chết người đó đi......Bỗng cọp tức giận gầm lên : CON BÀ MÀY, LẦN NÀO MÀY SAY THUỐC LẮC CỦNG RỦ TAO CHẠY KHẮP RỪNG

Phim

Không biết võ công + té núi + học võ công + trả thù = phim kiếm hiệp hồng kông .
Tình cờ gặp mặt + yêu nhau + chàng hoặc nàng chết = phim hàn quốc .
Nhiều cảnh đánh nhau + nhiều cảnh hôn nhau + trả thù = phim hành động mỹ.
Tình tiết chậm chạp + hút thuốc + hôn nhau + tắt đèn + hông biết = phim việt nam .
Oan gia + cãi nhau + khóc sướt mướt + thành đôi = phim tình cảm đài loan.
Cảnh phim hoành tráng + diễn viên đẹp + hông hiểu gì hết = phim đạt giải Oscar

Bùi Bảo Trúc ( II)

LÁ CỜ VIỆT NAM

Bùi Bảo Trúc (Việt Tide & LSR)

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh có hai bức ảnh rất nổi tiếng, đó là bức Tiếc Thương chụp một phụ nữ tay cầm tấm thẻ bài, những giọt lệ lăn trên má và bức Vá Cờ với một phụ nữ đang khâu lại lá cờ.
Một người khóc thương một người nằm xuống, một người kim chỉ vá lại chỗ rách của lá cờ là hai hình ảnh bi thảm của cuộc chiến. Một bức làm người ta nghĩ ngay đến người vì lá cờ ở dưới mà bỏ mình . Lá cờ có chỗ rách được vá lại cho lành, gìn giữ cái mà người lính trong bứùc ảnh kia đã vì nó mà hy sinh.
Tờ xuân Người Việt ở trang 194 có đăng một bài viết nửa trang của một người tên là Trần Thủy Châu nói là đang học cao học khoa Mỹ Thuật đại học UC Davis.
Bài viết đại khái nói về một gia đình làm móng tay, móng chân nuôi con đi học đại học.
Chuyện ấy không có gì đáng nói, nhưng kèm theo bài viết ngắn này là một bức hình chụp cái-gọi-là-tác-phẩm-nghệ-thuật của cô. Gọi nó là “tác phẩm” vì đó là chữ của cô ta, chứ bình thường ra mà xét thì cái mà cô ta sáng tác, nếu gọi việc lấy một cái chậu plastic mua sẵn về, quệt thêm một ít sơn vào là sáng tác thì cũng tội cho hai chữ sáng tác quá. Bức hình mầu chụp một chiếc chậu rửa chân dùng tại các thẩm mỹ viện, các tiệm làm tóc, làm móng tay.
Trông hình thì khó mà nghĩ nó là một tác phẩm nghệ thuật.
Chiếc chậu bằng plastic mầu vàng, có dây điện cắm vào ổ điện để giữ cho nước trong chậu được đúng nhiệt độ. Vòng quanh thành của cái chậu rửa chân mầu vàng là ba sọc mầu đỏ chạy hết vành phía trong chậu.
Phải là người chậm hiểu và thiếu thông minh và ngu xuẩn nhất mới có thể nói cái chậu với ba sọc đỏ trên thành chậu mầu vàng đó không làm cho người ta nghĩ tới lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa.
Và như thế, biểu tượng của một quốc gia đã được đặt vào cái chậu rửa chân.
Lá cờ phải bao nhiêu máu mới dựng được lên ở Quảng Trị, ở Huế, nay nằm trong cái chậu để rửa chân cho những thân chủ của một tiệm nail nào đó, bất kể đó là những bàn chân dơ dáy, hôi thối, ghẻ lở thế nào đi chăng nữa. Những cái chậu mà sau khi rửa chân cho khách hàng, nước ở trong trở thành “ dơ dáy, đục ngầu” như chính cô ta viết trong bài viết bên cạnh.
Con người ta là sinh vật duy nhất biết dùng biểu tượng. Lá cờ không phải chỉ là một miếng vải. Nó là biểu tượng của một quốc gia, của lịch sửû, của máu xương những người đã chết vì nó.
Đem xé nó, đốt nó, ném nó xuống đất, đạp lên nó là lăng mạ cái quốc gia mà nó biểu tượng. Những cuộc biểu tình bài Mỹ đều có kèm theo cảnh đốt cờ Mỹ, ném lá cờø xuống đất rồi lấy chân đạp lên.
Chỉ có loài vật, những con chó, những con ngựa mớùi không biết dùng biểu tượng.
Sáng tác phẩm của Trần Thủy Châu, nếu gọi đó là sáng tác của cô, là một sự lăng mạ, sỉ nhục cái đất nước mà cô có thể đã ra đời ở đó, mà gia đình cô, cha mẹ cô cũng đã có thời sống ở đó, dưới lá cờ đó, ở Huế, nơi những người lính nhẩy dù Việt Nam phải đổ bao nhiêu máu mới kéo được lá cờ mầu vàng có ba cái sọc mầu đỏ lên cột cờ ở Phú Văn Lâu.
Hình ảnh mang đầy sỉ nhục đó mà lại được đem đăng trong giai phẩm xuân của báo Người Việt thì không hiểu được.
Cô ta và báo Người Việt sẽ nói việc làm đó là quyền tự do mà hiến pháp Mỹ bảo vệ. Đúng. Nhưng cứ thử vẽ hình một người đàn ông râu ria tay cầm cuốn kinh Koran vào cái chậu rửa chân rồi đăng lên báo coi những chuyện gì sẽ xẩy ra.
Nói rằng vẽ cái cờ vào chậu rửa chân thì có sao đâu thì có thể gia đình của cô cũng đặt bài vị tổ tiên, bàn thờ gia tiên trong cầu tiêu, vì để như thế chắc cũng không sao phải không cô họa sĩ.
Cô nói là cô hy vọng qua tác phẩm nghệ thuật — chữ của cô – cô hy vọng ít nhiều tôn vinh được những người Việt Nam dũng cảm.
Việc vẽ lá cờ vào cái chậu rửa chân không thể là việc tôn vinh những người Việt Nam và đất nước Việt Nam như con ranh con hỗn láo vô gíao dục, mất dậy Trần Thủy Châu này đã nói. Phải dùng những chữ như thế để nói về một một con nhãi con đã lăng mạ lá cờ của mấy chục triệu người Việt, mà vì lá cờ đó, bao nhiêu người đã chết. Lá cờ bay trên cột cờ Phú Văn Lâu, trên cổ thành Quảng Trị, ở Bình Long, đắp trên quan tài của những người lính, trên những nấm mộ tử sĩ ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.
Nó phải được tôn kính thay vì đem vẽ vào cái chậu rửa chân như con ranh con khốn nạn đã làm và gọi đó là tác phẩm nghệ thuật và được đăng trên báo xuân Người Việt.
Phải nói cho chúng nó, những đứa lăng mạ, xúc phạm lá cờ này biết điều đó.

Bùi Bảo Trúc

ĐI RỒI -

Bạn ta,

Gia đình một người bạn của tôi có một cách trả lời điện thoại rất kỳ lạ. Bất cứ ai gọi đến xin được nói chuyện với ông, nếu ông có nhà, thì người nhà không nói gì, chỉ lẳng lặng đưa điện thoại cho ông. Người nhấc máy điện thoại lên, bất kể là người nào trong nhà, cho đó là bà vợ hay mấy người con thì cũng chỉ làm như thế. Im lặng, đưa cái điện thoại, không nói gì thêm.

Khi ông không có nhà, thì những người trong nhà, bất kể già trẻ, lớn, bé, nhấc máy trả lời cũng chỉ hai tiếng "Ði rồi" và bỏ máy xuống. Không phải là "Ði vắng rồi … đi khỏi rồi … không có nhà … vắng nhà …"
Bao giờ cũng chỉ là "đi rồi".

Tôi bắt đầu sợ hai tiếng này sau chuyến đi mới đây lên miền bắc và hỏi thăm về một người lâu ngày không gặp. Người bạn đáp: "Ði rồi".
Tôi bỗng nhớ những câu trả lời trong điện thoại. Tôi thấy gia đình này phải đổi cách trả lời. Không nên bằng hai tiếng "đi rồi" nữa.
Ở tuổi này, chữ "đi" mang một nghĩa khác.
Trong những lúc nói chuyện với những người tuổi tác như những người bạn, và luôn cả chính tôi, không nên dùng chữ "đi" này nữa.

Ngày xưa, nói "khi nào anh đi " thì chẳng sao cả. Ngày ấy, câu "bao giờ, khi nào anh đi" có thể nghĩa là bao giờ anh đi chơi, đi học, đi lính, đi quân trường, đi đơn vị, đi Mỹ... Bây giờ, cũng câu đó, người nghe có khi rất chột dạ.

"Ði" có nghĩa khác mất rồi. Như một cú điện thoại cách đây mấy năm của cô em gọi từ Canada vào một buổi tối và nói: "Mợ đi rồi."
Không cần phải hỏi "Mợ đi đâu, đi Montreal, đi Toronto, đi chùa, đi thăm bác Tám, đi Việt Nam, đi sang Mỹ, đi Pháp, đi Thượng Hải, đi Hàng Châu …" mặc dù những nơi đó mẹ tôi đã đi ít thì một lần, nhiều thì vài ba chục lần.
Cú điện thoại trong đêm khuya mà lại nói một người có tuổi "đi rồi" thì chỉ có thể "đi" một chỗ. Ði là đi theo ông cụ tôi. Ông cụ tôi đi trước đó hai năm.

Ði không còn có nghĩa là ra đầu đường đón chuyến metro, ra phi trường lên cái máy bay đi thăm chúng tôi. Với người thân hay những người chúng ta yêu quí, chúng ta không dùng chữ "chết" vì chữ "chết" dữ dội quá.
Chết trận, chết vì tai nạn, chết đuối, chết vì sét đánh.
Không ai nói "đi" trận, "đi" tai nạn bao giờ.
Ði. Không cần phải nói đi đâu. Cứ đi là nghe biết ngay.
Hỏi thăm người bạn về một người khác. Người bạn đáp đi rồi. Ði cách đây hai năm.
Không cần phải hỏi đi đâu? Ði bao giờ về? Ði một mình hả? Ði sao không nói gì?
Ði rồi.

Tôi bỗng thấy sợ cái động từ này. Thôi, bây giờ không dùng động từ đi để nói về những di chuyển nơi chốn, từ nơi này đến nơi khác, từ tỉnh này qua tỉnh khác nữa.
Phải nói rõ: anh ấy, ông ấy vừa bay sang Washington… tuần tới lại về LA, sau đó lại lên đường qua Canada.
Không nói đi nữa. Không hỏi bao giờ anh đi, ông đi, bà đi nữa. Hỏi vớ vẩn có khi bị la không cãi được… ô hay tôi còn khỏe thế này sao lại nói là … đi ?

Thế thì bây giờ chắc cũng phải đổi một câu trong bài Biển Nhớ của Trịnh Công Sơn.
Ông Sơn viết: Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về…
Không được, phải hát là ngày mai em đi, ngày mốt em quay trở về mới được.

Tuổi này mà cứ nói ngày mai em đi thì sợ lắm.

- Bùi Bảo Trúc -
8/08/2007
(Nguồn : Thư gửi bạn ta)

Bánh Xèo( II)



Bánh Xèo vẽ cái tranh này năm ngoái. Giờ post lai hù thiên hạ chơi nè.

Cô nàng giải thích.

Nè, Xèo đang đổ mực lên đầu thằng bạn thân. Mẹ hỏi. Nó đâu? Là đứa con gái đang múa bale ở phía dưới đó.
Me hỏi sao lại làm vậy? Hai đứa hàng ngày vẫn chơi thân thiết , mà sao lai phải đổ mưc lên đầu nó?

Vì hôm nay nó làm lơ Xèo, di choi với đứa khác.

Nhung sao lai vẽ nó là con gái ?

Xeo muốn ghẹo nó . Con trai ghét bị choc là girly,màu hồng, lai còn múa bale. Cho quê chết luôn.
Úi là ghê.

Xèo nói thêm. Con vẽ thêm mấy đứa cùng bè cùng phái dàn hàng hai bên đề Boo boo nó nữa.
Mẹ Lún sợ rồi, nhưng ráng hỏi thêm một câu nữa.

Nhưng tai sao đang rơi vào tình thế nguy hiểm như vậy , nó lai cười tươi như thế.

A, Xèo hành động bất ngờ từ trên xuống, nó đâu có biết đâu.


Hôm sau, Mẹ Lún lại thấy hai đứa tung tăng chơi với nhau như không có chuyện gì.Mẹ hỏi Xèo cho me mượn bức vẽ, Mẹ post lêm blog, cho bà con chiêm ngưỡng tí. Xèo cười . Con vứt thùng rác rồi.Hết giần rồi mà.

Bức tranh trên Mẹ moi trong thùng rác. Để kiếm cái khung nào hoàng tráng rồi treo lên.
Hù rằng.
Đàn ông con trai mà mess up với con gái của Lún Ghẻ đây, thì hậu quả sẽ như thế đó.

Bánh Xèo (I)

Hôm qua, Ba Nguyên mua hàu sống về.Ăn hàu sống là món khoái khẩu của ba cha con.Không có Mẹ tham gia. Phần sướng nhứt của việc ăn hàu sống là mình...không phải nấu nướng gì sất.

Ba cha con. Quây quần kế cái sink. Ăn cho ...khỏi dơ. Nạy hàu cũng mệt mỏi lắm.Mà hai đứa nhỏ cứ đứng há hóc mồm.Ăn xin rồi ăn dựt với nhau.Loay hoay làm sao, chàng chồng của tôi lụi con dao nhọn một phát vô lòng bàn tay.Một nhát sâu hun hút.Máu me tung tóe.Thế là công cuộc ăn hàu sống đành phải tạm dừng lại.Để chạy vô binh viện gần nhà nhờ bác sĩ máy cho vài mũi vào tay.Hên là binh viện Davis đang rảnh.Nên không phải chờ.

Chuyện có thế thôi.

Nhưng tối tới, vô hun con trước khi đi ngủ. Me thấy Bánh Xèo trùm chăn,khóc tỉ tê.Hỏi hoài, con cứ khóc hoài.Phải tắt hết đèn, chun vô gường nựng con mãi một hồi.Con nhỏ mới bật ra một câu. Daddy nói ngày mai Daddy làm hàu sống ăn nữa.

Mẹ giựt mình.không dè.Thế mà mình nghỉ không ra nhỉ.Con nó lo xa cho Daddy của nó.Mà nó khóc đến như vậy.Thương quá là thương!

Me dắt Xèo ra. Rồi kêu Ba đem hết số hàu đang còn trong tủ lanh, và cả con dao nậy hàu nữa.Bỏ vô bọc ni lông. Xèo kêu. Daddy nhớ buộc chặt bọc lai nha.

Ba người đem hết ra quăng ngoài thùng rác trước nhà cho rãnh việc.

Thế là con gái quẹt nước mắt.Cười.

Ngủ yên khò khò hết cả đêm.

5/23/09

Cầu vồng hủy diệt

Cả mấy hôm nay,đầu óc mụ đi vì hình ảnh đẹp của chiếc cầu vòng và sự lạm dụng hai chữ lãng mạn cầu vồng (rainbow)trong việc nickname cái chiến dich khủng kiếp dùng chất hóa hoc trong chiến tranh việt nam của Mỹ.

Rainbow herbicides.

Mọi màu đep nhứt trong bảng màu được dùng cho việc nickname những loai hóa chất độc hai nhứt mà quân đôi Mỹ đem qua Việt Nam.

Mỹ không những rãi chất độc màu da cam, mà có thêm những loai khác.Màu xanh lá cây, màu xanh dương, màu trắng, màu hồng, màu tím( nickname của từng loại base on màu trên nhãn của từng thùng chất độc Mỹ đem sang Việt Nam).


Agent Blue dùng để tiêu hủy những cánh đồng lúa Việt Nam. Lúa sống nhờ nước.Agent Blue làm cây lúa khô lai.Rồi chết. Những cánh đồng sau này cũng không có khả năng trồng lúa lai đươc.Chỉ có quỉ sứ thông minh lắm mới có khả năng kỳ diệu như vậy để hủy diệt sư sống hiền hòa của cây lúa nước.

Agent Green, White, Pink đươc dùng để hủy diệt cây cỏ trong những thời gian đầu tiên của cuộc chiến tranh hóa hoc 1962-1964. Sau này,chắc việc phát hoang không thành công nhanh chóng. Nên Agent Ogange (loai độc nhất so với mấy loai kia) đươc sử dụng.Người Mỹ không muốn phí thời gian, và cả tiền nữa. Nên cái gì độc nhứt,ác nhứt thì đem ra xài. Cho tiện.

Agent Purple. độc gấp ba lần Agent Orange. Nam mô Đà Phật.Loại này cũng chỉ "đươc sử dung một thời gian ngắn ",chắc vì quá độc.Quân đội Mỹ "chỉ" dùng một lương nhỏ (không biết cái lượng nhỏ đó đươc tính theo size Mỹ hay size Việt Nam) Agent Purple ở Việt Nam.

Rồi tới Agent Orange. Tôi không hiểu người Mỹ gọi đơn giản lai là Agent Orange, mà không phải là dioxin.Agent Orange không có nghĩa gì hết.Chất độc màu da cam.Mới rõ nghĩa cái chất độc giết người này.Dioxin là ông vua của chất độc.Không còn cái chất độc nào độc hơn nữa.

90 triệu lit thuốc độc giết người mà người Mỹ kêu văn hoa là rainbow herbicide rải ở Việt Nam liên tuc trong vòng 10 năm.10 năm.

10% đươc rãi bằng tay, bằng xe hơi hay bằng thuyền xuống nguồn nước. Còn lai 90% đươc phi công Mỹ lươn lờ an toàn thãi bằng máy bay C123 hay trưc thăng.

Có nghĩa là dân Việt Nam cứ đứng phía dưới, ngẩn lên nhìn máy bay là hít hà thuốc độc.Ngẩn ngơ hỏi là thằng Mỹ lái máy bay qua mà hiền thế. Hôm nay không thả bom à.
Nếu nghĩ về vụ rãi chất độc, thì việc tra tấn phi công Mỹ của dân ta là chuyên rất nhỏ.Giống như lấy cây roi mây mà quất đít thôi có gì dâu mà la lớn thế ông Mc Cain.

Thêm nữa, lắm lúc tôi không hiểu làm sao dân ta chiu đươc không khí ô nhiễm năng nề như bây giờ. Nghĩ lai mà thương. Miễn sao hòa bình.Miễn sao không phải hít chất độc, là tốt rồi.Ô nhiễm ư ?ket xe ư ?nhà ổ chuột ư ? Chuyện nhỏ.

Những dữ liệu này cũ kỹ lắm rồi. Nhưng mỗi lần đọc lai, tôi cứ lăng người đi từng chăp. Từng chặp. Rồi khóc lặng trong lòng.

Chiến tranh đã qua lâu rồi. Thế hệ X8, 9,10, 11 đã ra đời. Mà chiến tranh vẫn lăng lẽ sinh ra cùng với những đứa bé Việt Nam,dị dạng, mất tay, mất chân,đầu óc không bình thường... đến bây giờ đã là thế hệ thứ ba rồi.

Cha me chúng sợ hãi ôm chúng vào lòng,hay dấu biến chúng ở trong nhà, hay tàn nhẩn vứt lai trong binh viện.Biết bao nhiêu nạn nhân của cái cầu vồng hủy diệt ấy luôn nghĩ là tai mình ăn ở thất đức nên bi giờ quả báo.

Người ta ở Việt Nam không rỗi hơi đấu tranh cho nhân quyền hay làm cái gì đễ cũng cố xã hội công bằng hết ráo.Với nạn nhân da cam, cái nhân quyền gì đó mà nhiều người đang gào lên đành đạch đòi cho được,coi bô xa xỉ quá.Họ chỉ muốn đươc cái quyền sinh ra làm một người có một( chứ không phải dính liền với ai hết)thân thể bình thường, khỏe manh.Miễn sao.Con tôi sinh ra, lành lặn đủ 10 ngón tay,mười ngón chân,đầy đủ mắt mũi,đầu óc bình thường.Thì tham nhũng bao nhiêu cũng đươc.Ket xe bao nhiêu cũng xong.Con tôi lành lặn.Là tôi bình an.Hạnh phúc quá đỗi bình thường, mà biết bao gia đình ở Việt Nam, không thể có đươc sau bao hơn 40 năm nay.


Càng viết. Tim tôi càng thắt lai.Tôi chỉ muốn gào lên. Gào thật to....Thương cho cái dân Việt của mình quá.

Bạn mình

Hôm qua, bạn goi điên thoai từ Việt Nam sang(đến là sang) để cập nhật về việc mình nhờ bạn tới làng Hữu nghi ở Hà tây,Hà Nội, nơi nuôi day trẻ em chất độc da cam và cưu chiến binh da cam.Mình nhờ ban liên hệ công việc cho Yelling Clinic.

Bạn chu đáo. Cẩn thận chup hình hết ngóc ngánh trong trường,cả những bậc tam cấp lên xuống trong trường ( vì ban biết Yelling Clinic có hai người tàn tật). Ban tranh thủ thăm hết các em,làm hết những gì mình đòi hỏi, post hết hình lên mạng cho mình, rồi tỉ tê gọi phone qua để giải thích từng bức hình một.

Mình mừng. Vì đươc việc. Ban hỏi là còn cần nhờ gì nữa không. Vì ban đang còn rảnh ở Việt Nam.Ban làm hết cho.

Thế là đươc nước nhờ vả, "lơi dụng" thêm.

Vậy đang ở trong Sài Gòn thì qua làng Hòa Bình ở Từ Dũ dùm nhá.

Mình đe trước. Trẻ em ở làng Hòa Bình Từ Dũ dị dạng, binh năng hơn rất nhiều so với trẻ em ở làng Hữu Nghi.Nếu sợ thì không phải đi.

Ban ngập ngừng rồi nói. Nói thật nhá. Mình đi mấy viêc này.Mình sợ lắm. Thấy mấy đứa trẻ binh down, mình ớn lắm. Nhưng đã hứa với Châu, thì làm. Nhưng mà lúc ra ngoài đó.Thấy tui nhỏ dể thương quá.

Mình lặng cả người. Ừ,lần trước, khi tới thăm trường, và ngay cả khi quyết đinh làm về đề tài Agent Orange, mình cũng có nỗi niềm sơ hãi như vậy. Phải mất cả bao nhiêu lâu, mình mới vượt qua những cảm giác "muốn ói" để có thể nhìn những hình ảnh dị tật đau thương của các em bằng con mắt của con người. Nên mình hiểu.

Vậy mà ban cứ đồng ý làm tất tần tật việc cho mình.Việc của mình cũng chẳng là mối quan tâm của bạn.

Mà không phải là một ban này nhá.

Còn hai ban khác cũng tận tình giúp mình. Ban kia thì dành cả ba ngày ra Hà Nội với mình. trưc tiếp hẹn ban giám đốc làng cho mình và ra thăm các em với mình.Mà chẳng có ban nào thật rảnh ranh để cù cưa với mình lâu. Nhưng vẫn nhiệt tình với mình lắm lắm.Còn một ban kia thì là hoa sĩ, cũng tới làng thăm dò cho mình đấy.

Tự dưng ngẫn cả người.

Vì.

Xung quanh mình. Toàn bạn tốt.

Mà tự dưng vì lời thú nhận ngập ngừng đến xúc động của bạn, mới lọ mọ mò ra đươc cái entry này nè.

Để nói là.

Cám ơn ban!

Yelling Clinic

Năm ngoái,bà giáo sư mỹ thuật của tôi rủ rê tôi và hai hoa sĩ khác thành lập một nhóm gọi là Yelling Clinic. Chẳng biết nên dich ra như thế nào cái tên " độc" này. Nhưng cả bốn người rất lấy làm hả da vì khi google chữ yelling clinic , thì chỉ có cái website của nhóm hiện lên thôi. Nghĩa là không bi trùng, là thành công rồi.
Nhưng tới khi tìm chữ dich ra tiếng Việt, thì tôi tắt đài. Không lẽ" Viện la hét tri liệu"????!

Ý nghĩa của "thương hiệu" Yelling Clinic .

Clinic là một nơi dành cho người binh nan y.Binh nhân phải đến điều tri trong một thời gian dài, nhiều khi với sư kiên trì và niềm tin lac quan là mình sẽ hết binh.Khác với hospital là nơi người binh tới một thời gian ngắn, hết binh rồi về.Không hết cũng phải về, đễ kiếm tới clinic.Với những binh nan y, thuốc men nhiều khi không chữa đươc, mà bác sĩ phải dùng tới những phương pháp tri liệu khác. Người ta hay nghe tới vật lý tri liệu,tâm lý tri liệu, và sau này là hội hoa tri liệu
(art therapy). Yelling clinic tin tưởng là la hét, gào thét tri liệu cũng là một phương pháp hữu hiệu để chữa những binh mà thuốc men đành bó tay.

Lý lịch trích ngang của Yelling Clinic

Yelling Clinic là một đề án tỗng hợp gồm bốn hoa sỉ xuất thân từ UC Berkeley, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Các họa sĩ thành viên có chung một mối quan tâm về hôi hoa, chiến tranh và cuộc sống của người khuyết tật.Dư án chung đầu tiên của cả nhóm là đến Việt Nam tìm hiểu về hâu quả của sự ô nhiểm gây ra bởi quân đội Mỹ trong cuộc chiến chống Mỹ và tác hai của sư ô nhiễm này trên những thế hệ sau chiến tranh, thông qua việc sáng tác tranh, điêu khắc,phim ảnh, và nghệ thuật sắp đăt.

Điểm đến đầu tiên của nhóm sẽ là làng Hữu nghị, Hà Nôi. Cả nhóm mong muốn đươc tiếp xúc với trẻ em và cưu chiến binh của làng trên tinh thần cùng nhau sáng tác hội họa để hiểu biết cũng như sang sẽ lẫn nhau những kinh nghiệm về hội họa, chiến tranh và cuôc sống của người khuyết tật.

Thành viên của nhóm gồm:

Katherine Sherwood, giáo sư hội hoa, khoa mỹ thuật của trường UC Berkeley. Là một hoa sĩ khuyết tật ( bà bi liệt nữa mình bên phải trong một tai nan cách đây 10 năm), Katherine Sherwood thành lập một khóa học thường niên rất nổi tiếng gọi là Art, Medicine and Disability ( tam dich: Hội Họa, Liều thuốc chữa binh và người khuyết tật).Sau ngày bi tai nan, Katherine chuyển sang vẽ bằng tay trái. Tranh của bà có kích thước lớn hơn, thời gian vẽ lâu hơn ( hai năm /tranh)và khác hẳn với cách vẽ của bà ngày xưa.Bà tin tưởng là việc tiếp tuc sáng tác tranh là một động lưc giúp bà hồi phuc nhanh hơn.Hơn 15 kinh nghiệm giảng dạy và qua kinh nghiệm bịnh tât của bản thân, Katherine luôn tin tưởng là hôi hoa có thể giúp chữa lành binh tật của con người ,cả về thể xác lẫn tinh thần.

.
Huỳnh Thủy Châu, hoa sĩ từ Việt Nam, xuất thân từ một gia đình có truyền thống hội hoa.Từ nhỏ, Châu đã đươc Má, là một họa sĩ, kèm căp như một họa sỉ tí hon.Đinh cư tai Hoa Kỳ năm 1999, Thủy Châu tốt nghiệp đai hoc UC Berkeley khoa Mỹ Thuật và cao hoc Mỹ thuật tai UC Davis. Là thế hệ trưởng thành sau chiến tranh ở Việt Nam,cô lúc nào cũng cảm giác là mình không biết gì về cuộc chiến chống Mỹ ở ViêtNam ngoài những kiến thức sơ sài của mình.Khi còn ở đai hoc Berkeley,hướng sáng tác của cô bắt đầu quan tâm đến nhiều về đề tài chiến tranh Viêt Nam và con người Việt Nam, nhứt là hệ quả sau cuôc chiến. Cô tin tưởng thông qua hội họa, bản thân cô và người xem tranh cô ít nhiều sẽ có dip hiểu và cảm thông hơn về cuộc chiến vừa qua.Bớt hận thù,thương yêu nhau thên chút nữa.

Sunaura Taylor tốt nghiêp cao học Mỹ thuật từ UC Berkeley. Cô bị di tật bẩm sinh, tàn phế hai tay và hai chân vì chất độc khu quân sự thải ra nơi cô sinh ra. Cô luôn nói đùa là thân hình tàn tật của cô là hậu quả của một cuộc hiếp dâm bởi chất đôc quân sự của Mỹ.Là một hoa sĩ khuyết tật, Sunaura cống hiến tài năng,thời gian và sức lưc của mình để đấu tranh cho quyền làm người cũng như những nỗi đau thường trực của người khuyết tật cũng như động vật.Những bức tranh của cô thường miêu tả cảnh súc vật bị vức bỏ, nhươc đãi. Như một cách so sánh rất tế nhị cách xã hội thường đối đãi với người khuyết tật.Người khuyết tật và động vật đương nhiên bi liệt vào hàng phế phẩm,những công dân thứ hai trong xã hội,luôn luôn bi coi thường hay cùng lắm là chỉ đươc thương hại như một đối tượng của việc từ thiện.

ErhenTool tốt nghiệp cao hoc Mỹ Thuật tại UC Bekekeley. Anh xuất thân từ một gia đình có ba thế hệ tham gia chiến tranh. Ông nội anh cầm súng tham gia Chiến tranh Thế giới lần thứ 2. Cha anh có mặt tai chiến trường Viêt Nam những năm 60. Bản thân Tool tham gia cuôc chiến vùng Vinh.Tool nổi tiếng với những chiếc ly bằng sứ của mình. Anh nung gốm, rồi điêu khắc những hình ảnh phản cảm nhưng rất quen thuộc về chiến tranh lên những tác phẩm của mình.Anh không ủng hô cũng như phản đối chiến tranh. Anh chỉ muốn đưa ra những hình ảnh tàn khốc của những cuộc chiến chính nghĩa cũng như phi nghĩa.Như một lời cảnh báo.Chiến tranh không phải là trò đùa. Hậu quả của nó thảm khốc một cách không lường, lâu dài cho cả bên chiến lẫn bên bại.Erhen là người gợi ý tưởng "yelling" cho nhóm.Anh nói.Thỉnh thoảng,anh cũng phải gào lên, thét lên. Và tôi đã chứng kiến anh yell rồi. A big and impressive yell.Đễ lấy lai thăng bằng trong cuộc sống mà tiếp tuc sáng tác.Art for yell ( not art for sale).

Nói nhỏ:Một trong những project nổi tiếng nhứt của Tool là ...anh phát không ly gốm của mình cho bất kỳ ai có nhu cầu.Chỉ việc email tới cho Tool, và địa chỉ người nhận. Erhen sẽ gởi tới miễn phí.Ly gốm của Erhen Tool thuộc loại food safe. Nếu không, Erehen bán trong phòng triển lãm là $100/cái.
email cho Tool tai
ehrentool@berkeley.edu

Thành viên của nhóm đã thêm đươc 2 hoa sĩ khác. Tôi sẽ update thêm. Hoa sĩ hoăc không phải hoa sĩ, nếu có chung y tưởng ( hoăc có gì góp ý), xin góp ý qua entry này.
Thân.

5/19/09

Từ câu chuyện của một thuyền nhân

This is a piece written for VietTide, using An Nguyen's memory, a Vietnamese Boat People as a starting point.Last year,me and my friend, Ngoc Lan, both were touched deeply because of this story.We did not know why. May be because we both did not have personal experience as Boat People.We learnt by slowly listening and asking the very detail questions.
Using the story as the initial inspiration, we each pursuited our own project differently.
One is series of paper boat drawings. Another one is this story below. It is quite a story.
Thanks for An Nguyen, who really took his time to recall his unique story so we could fulfill our project. Hope that our readers, here and back in Vietnamese as well, understand and appreciate this story as a part of our painful history so as a VietNamese, together we can move on to have a better future, if not for us, then for our youngers.

Từ câu chuyện của một thuyền nhân

Bên ghè đá của một bờ biển Nam Cali, trong rì rầm tiếng sóng của một chiều chưa tắt nắng, tôi trôi miên man trong câu chuyện của một thuyền nhân mang tên An Nguyễn.
“Tôi sinh ra tại miền Nam Việt Nam, vào một ngày tháng 8 năm 1965. Cha tôi là một người lính trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Mẹ tôi buôn bán nhỏ. Khi cộng sản Bắc Việt tiến chiếm miền Nam tháng 4 năm 1975, cha tôi, như trăm ngàn người lính miền Nam khác, phải vào các trại “học tập cải tạo” để hứng chịu sự tra tấn cả về thể xác lẫn tinh thần qua những công việc lao động hà khắc, qua cái thiếu ăn khủng khiếp, cũng như qua các trại biệt giam trong 12 năm ròng rã. Công việc buôn bán của mẹ tôi cũng bị tịch thu. Chúng tôi đã phải làm tất cả mọi chuyện mà chúng tôi có thể để xoay xở với cuộc sống. Tôi không hề nghĩ rằng bằng cách nào mà chúng tôi đã tồn tại qua những năm tháng đó.
Từ năm 1979 đến 1981, tôi đã nhiều lần thất bại trong việc trốn thoát khỏi Việt Nam, và bị bắt hai lần. Mỗi lần, tôi chỉ ở tù một tháng, bởi mẹ tôi đã lo lót cho tôi thoát ra ngoài. Trong tù, tôi cũng bị đánh đập nhưng tôi không xem đó là sự tra tấn. Bởi so với những gì mà cha tôi đã trải qua, nỗi đau mà tôi phải chịu chỉ như trò con trẻ. Cuối cùng, vào tháng 8 năm 1981, ở tuổi 16, tôi đã trốn đi thành công trên một chiếc thuyền nhỏ để đến được Hồng Kông sau 4 ngày trên biển ‘South China’. Trải qua 8 tháng ở trại tị nạn, tôi đến Mỹ vào tháng 4 năm 1982…”
Có thể hình dung vài nét phác thảo về diện mạo của An là như thế. Diện mạo đó tôi cũng như bạn có thể bắt gặp trong hàng triệu thuyền nhân khác đang sống quanh đây hay ở bất kỳ một quốc gia nào khác trên trái đất này.
Nhưng để tìm hiểu một con người, một số phận, không thể chỉ dừng lại ở một dáng vẻ bề ngoài. Mỗi cuộc đời là một câu chuyện, câu chuyện đó có thể nhàm chán với người này nhưng lại là nguồn suy nghĩ cho người khác. Câu chuyện của An Nguyễn – chỉ là những mảnh kí ức cóp nhặt từ những gì còn ghi dấu trong tiềm khảm – cứ như một ma lực dẫn dắt tôi miên man trong nhiều dòng suy nghĩ, cái này dẫn tới cái kia, chuyện này liên quan chuyện nọ, tất cả cứ như xô đẩy, chen lấn nhau để mà hiện hình sao cho thật rõ ràng, thật cụ thể trong miền tâm tưởng của tôi.
Tôi suy nghĩ về từ “escape” mà An đã dùng nhiều lần để nói về chuyện “vượt biên” của mình. Tôi đã nghe cả trăm cả triệu lần từ ‘vượt biên’ nhưng sao tôi vẫn thấy lòng thật nặng khi bắt gặp từ ‘escape’. Tại sao người ta phải trốn chạy, phải cố gắng bằng mọi cách thoát đi để tìm cho mình một con đường sống khi mà Sài Gòn ‘giải phóng’?
“Ba mẹ tôi có 7 người con trai và 3 người con gái. Tôi thứ 8, thứ 9 là một đứa em trai và 10 là cô em gái. Hai người anh lớn của tôi vượt biên đến Paulau Bidong , Malaysia năm 1978. Sau đó 3 người anh nữa đến đảo Galang , Indonesia năm 1979. Kế tiếp là anh rể tôi đi năm 1980. Tôi đi năm 1981… Rồi đến chị tôi, rồi em trai tôi…”
Gia đình An chỉ là một điển hình cho chuyện “escape”. Không phải chỉ là một, là hai, mà là hàng trăm, hàng triệu người đã phải ‘trốn chạy’ như thế, để tạo thành một làn sóng di tản, tạo nên cả một trang sử thuyền nhân vô cùng bi thảm. Thế nhưng trong số hơn 80 triệu người Việt Nam còn nơi quê nhà, có bao nhiêu người hiểu hết được câu chuyện của những thuyền nhân vượt biển? Bao nhiêu người tận mắt đọc được những trang đẫm nước mắt của dân tộc mình trên cùng một quyển sách mang tên “Lịch Sử Việt Nam”?
Mỗi lần đọc chuyện của những người vượt biên là tôi cứ lại nhớ về một người bạn của mình: Trần Thị Cẩm Hồng. Kết thúc năm học lớp 10, cả lớp gần 40 đứa tụ tập đi Lái Thiêu. Không có anh em Hồng-Hùng trong số đó. Chiều ngày hôm sau, ngày cuối cùng của tháng 5 năm 1988, Như Hà đạp xe lên nhà tôi và báo tin “L ơi, Cẩm Hồng chết rồi!”. Tôi sững sờ: “Sao Hà biết?”, rồi chợt nhớ ra là Như Hà và Cẩm Hồng ngồi cạnh nhau suốt năm học đó… Trong hành trang mang theo cho chuyến vượt biển của mình, Hồng đã mang theo quyển Nhật Kí mà trang đầu tiên đã ghi: “Nếu ai nhặt được quyển sổ này xin hãy mang đến cho bạn tôi: Nguyễn Thị Như Hà, địa chỉ…”. Hà nói: người mang quyển nhật kí đã tìm đến nhà của Hà ở quận 11 để trao và kể lại: “một chiếc tàu vượt biên bị bắn ở Mỹ Tho, nhiều người chết… trong số những thứ người ta vớt được có quyển sổ này…” Tôi nhớ sau đó tôi vào nhà kể cho ba má tôi nghe, xong tôi lên gác ngồi khóc… Tôi thực sự không nhớ rõ ràng cảm xúc của mình khi đó, qua những dòng nhật kí còn lưu giữ, tôi chỉ biết rằng “Lần đầu tiên trong đời mình cảm thấy thế nào khi một người bạn không còn có mặt trên trái đất này…” Như Hà, tôi và 1 vài người bạn nữa đã đến để chia sẻ với mẹ Cẩm Hồng… Ngày 3 tháng 6, chúng tôi cũng đã cùng nhau về Mỹ Tho để mong được dự đám ma bạn bởi người nhà báo tin hôm đó sẽ vớt được xác… Chúng tôi đã ngồi đợi ở một ngôi chùa đến tận chiều tối, vẫn không thấy tăm hơi… Hai ngày sau, nghe mẹ Hồng nhắn đã tìm thấy xác anh trai của Hồng, còn Hồng thì vẫn trôi mãi nơi đâu… Nhiều đêm sau đó, Như Hà vẫn cứ hay nằm mơ thấy Hồng “quay về”: “Hà ơi, Hồng lạnh lắm!…” Hà kể, và chúng tôi lại ngồi khóc với nhau… Hà không duy tâm, tôi cũng vậy, nhưng tôi tin có những niềm dự cảm như thế…
Quay về câu chuyện của An Nguyễn. An kể về cái đêm ngồi chờ xuống tàu trên một cái ‘gì đó’ của những người đánh cá: “Tôi ngồi trên đó, tự giữ thăng bằng trên những chiếc cọc gỗ, giống như người ta làm xiếc vậy, nếu không tôi sẽ chết. Dĩ nhiên là tôi RẤT sợ. Tôi ngồi một mình nơi đó lúc giữa đêm khuya. Tôi nhớ là tôi RẤT sợ, tôi nghĩ đến chuyện nếu tôi té xuống, tôi sẽ chết. Ðến tận bây giờ, mỗi lần nhớ lại cảm giác lúc đó, tôi vẫn còn nghe ‘lạnh xương sống’… Tôi không cảm thấy cô đơn, mà chỉ thấy sợ hãi, sợ bị bắt, nhưng hơn hết vẫn là sợ rơi xuống và chết. Tôi cố gắng giữ chặt lấy những cây cọc chung quanh, để giữ thăng bằng cho mình… Tôi đang cố gắng giữ lấy cuộc sống thân thương này…”
Tôi đọc không biết bao nhiêu lần đoạn kể trên, mà mỗi lần đọc là mỗi lần day dứt: những người vượt biển không phải là những người không biết sợ. Nhưng có cái gì còn đáng sợ hơn nữa để họ phải bất chấp nỗi sợ như An? Hay có thể sẽ phải chịu những cái chết tức tưởi như bạn tôi khi chưa bước qua được tuổi 16? Người ta chỉ sợ chết khi người ta còn tha thiết lắm với cuộc sống này. Và đã sống thì phải sống sao cho đáng một kiếp người, được đối xử như một con người.
Nói về lí do vì sao phải ra đi, An chỉ nói một cách ngắn gọn: “Gia đình tôi cũng như nhiều người khi đó. Càng ngày càng không thể sống được ở Việt Nam, vì thế chúng tôi phải ra đi.”
Câu trả lời nhẹ tênh cùng lí do tưởng chừng quá đơn giản nhưng sao cứ như xoáy vào đầu tôi một câu hỏi: Còn gì đau đớn hơn khi người ta không thể tồn tại được ngay trên mảnh đất quê hương mình, phải rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn bằng những cuộc vượt biên, trốn chạy để rồi phải mang trên mình tên gọi là “kẻ phản quốc”?
Tôi đã dừng lại thật lâu ở đoạn An nói về “soul catcher” mà tôi chưa biết phải diễn tả nó như thế nào bằng tiếng mẹ đẻ của mình cho thật hết
những gì chất chứa trong 2 từ đó: “Những người Việt Nam vượt biên không phải là những kẻ phản quốc. Họ yêu tha thiết quê hương mình, và tình yêu đó càng mạnh mẽ hơn nhiều sau khi họ vượt biển ra đi. Họ ra đi chỉ vì họ không thể sống thêm được ở đó. Hãy hỏi bất kỳ thuyền nhân nào để biết rằng những năm đầu sau khi vượt biên, ai cũng nhớ nhà kinh khủng, họ luôn nằm mơ, giấc mơ đúng nghĩa hằng đêm: mơ được trở về. Ðó là sự hòa quyện đan xen của những cảm xúc ngổn ngang trái ngược: vui mừng biết bao khi thoát khỏi quê hương và khao khát vô cùng sự trở về…”
Sẽ không thể nào hiểu hết được tâm trạng đó của An cũng như những người vượt biển khác khi không biết rằng ở vào thời điểm ấy ra đi là không có hy vọng ngày trở về, hay nói đúng hơn ngày được quay về hãy còn là cái gì mờ mịt lắm! Cũng là một quy luật của muôn đời: cái gì không ở trong tầm tay thì lại càng khiến cho người ta cháy bỏng hơn những nỗi khát khao. Hiểu được như vậy thì mới hiểu hết nỗi ‘nhớ nhà kinh khủng’ mà An nhắc đến nó khắc khoải và da diết đến mức nào!
“Soul catcher” – người ‘bắt giữ’ linh hồn đó của những thuyền nhân không ai khác hơn là quê hương. Có làm người xa xứ tha hương thì mới cảm thông hết được nỗi niềm lưu luyến mảnh đất cha ông. Ði đâu, ở đâu, làm gì rồi thì linh hồn của mỗi người cũng đều có 1 hướng để vọng về: nơi chôn nhau cắt rốn. Không thể chối bỏ, không thể khước từ: “soul catcher”.
Tôi nhớ vào những ngày tháng đó, anh trai tôi, cũng bằng tuổi An, cũng là một thuyền nhân. Từ đảo Galang, mỗi lá thư anh gửi về nhà là mỗi lá thư đẫm nước mắt của ba má và các anh chị em tôi. Tôi cứ nhớ hoài khi ấy tôi chỉ mới 8, 9 tuổi, tôi đọc lá thư anh viết: cứ sau những giờ lao động làm thêm để kiếm tiền, anh vẫn thường ghé đến những ‘ngôi trường’ dạy trẻ em tị nạn, nhìn những đứa bé đó và hình dung ra chúng tôi – những đứa em gái ở nhà – bây giờ đã thay đổi ra sao, rồi anh ao ước giá như anh được quay về để nói rằng anh thương chúng tôi lắm… Tôi đọc và nước mắt cứ chảy, cứ nghe tim mình thắt lại như ngay lúc này…
Tôi lại chợt nhớ đến tâm sự của một người từng làm báo, sang định cư nơi đây theo diện H.O vào đầu những năm 1990. Anh nói: Người Việt nơi đây (trên đất Mỹ này) mang những nỗi niềm mà các dân tộc khác không hề có. Tôi chưa thực sự hiểu nỗi niềm anh muốn nói đến là gì, nhưng tôi cứ trăn trở với câu nói đó. Và tôi lí giải nó theo cách riêng của mình.
Nỗi niềm đó, phải chăng là nỗi niềm như An vừa kể, nỗi niềm của những kẻ tha hương, không thể sống trên mảnh đất tổ tiên, chọn quê người làm chốn dung thân, nhưng vẫn canh cánh trong lòng ngày trở về. Nỗi niềm ‘giữa hai miền mưa nắng’ như nhà văn Hoàng Mai Ðạt đã viết: “Quê hương tôi không ở bên kia, cũng không phải ở đây, mà ở đâu đó giữa hai nơi. Tôi rời VN quá sớm để có những kỷ niệm êm đềm với VN… Tôi không có nhiều gốc rễ ở bên kia, tôi cũng không có gì ở bên đây. Những người rời xa quê hương quá sớm đều không có nơi để trở về.”
Nhưng dẫu biết là như vậy nhưng những người như An, như tác giả Hoàng Mai Ðạt, hay bất cứ một người xa quê nào “vẫn cố gắng hòa nhập vào một quê hương mới mênh mông, với một tay bám theo tương lai xa cội nguồn và một tay nắm giữ những quá khứ chưa muốn dứt lìa. Hai dòng sống vẫn trôi nhanh, cách biệt, bất kể những bất hạnh, bất lực, những đắng cay và tiếng cười đứng bên cuộc đời. Tôi không thể cưỡng lại dòng sống ở bên đây, và tôi cũng không thể trở về dòng đời bên đó.”
Nắng đã tắt. Màn đêm đã buông. Trong cái mênh mông bất tận đến vô cùng, sóng vẫn rì rầm bài hát ngàn năm của biển khơi mang theo trong đó những câu chuyện, những linh hồn, những ước nguyện không bao giờ nguôi của những người có cùng tên gọi “Thuyền Nhân”…

5/18/09

two flags (III)


Biểu tượng chính trị táo bạo và phản cảm

LÃ XUÂN GIANG

Ngày 17 tháng 1 năm 2009, nhà hoạt động James Du bất ngờ xuất hiện tại cuộc biểu tình chống VAALA, giăng tác phẩm “Hai Lá Cờ (Two Flags)” của họa sĩ Huỳnh Thủy Châu, và bị đám đông xông vào đánh. Ông James Du cho biết, ông chỉ muốn bày tỏ sự ủng hộ tự do ngôn luận, tự do bày tỏ ý kiến, tự do sáng tạo nghệ thuật, nhưng đám đông cực đoan đã không chấp nhận.

Dư luận, có nhiều ý kiến cho rằng, ông hoặc là muốn khiêu khích đám đông, hoặc đã không chọn đúng hình thức bày tỏ có hiệu quả. Trước đây, ông cũng đã từng làm một hành động tương tự, nhưng không bị những phản ứng thô bạo như thế. Ông từng trương biểu ngữ “ủng hộ tự do ngôn luận” trong cuộc biểu tình chống Việt Weekly, dư luận lúc đó cho rằng ông đã thực hiện một hành động can đảm.

Sự khác nhau của hai sự kiện bắt nguồn từ sự khác nhau của thông điệp mà ông James Du trưng ra. Tác phẩm “Hai Lá Cờ,” kết hợp cờ đỏ sao vàng và cờ vàng ba sọc đỏ, đối với những người biểu tình, cổ võ cho thông điệp chính trị “hòa hợp hòa giải” hơn là cho tự do ngôn luận thuần túy. Điều này giải thích được thái độ phản ứng mạnh mẽ điên cuồng của đám đông so với lần trước, mặc dù, đánh người chỉ vì thể hiện ý kiến của mình, là một hành động đáng lên án và không thể chấp nhận được trong một xã hội dân chủ tự do và pháp trị.


Mặc dù được nhắc đến nhiều, nhưng tác phẩm “Hai Lá Cờ” vẫn chưa được khảo sát như là một tác phẩm nghệ thuật. Có nên coi “Hai Lá Cờ” là một tác phẩm nghệ thuật thuần tuý? Hay là một thông điệp chính trị? Hay cả hai, và ở chừng mực nào? Giá trị của nó ra sao?


Một tác phẩm nghệ thuật có thể được bàn luận ở nhiều khía cạnh. Khía cạnh nghệ thuật trên những yếu tố như màu sắc, đường nét, bố cục, vật liệu. Nhưng ngoài ra, một tác phẩm nghệ thuật còn dính liền với khía cạnh cảm xúc và lý trí nữa. Tác phẩm “Hai Lá Cờ” không thể coi là một tác phẩm nghệ thuật thuần túy và phi chính trị, bởi vì, nó được thai nghén, sáng tạo, và vận dụng nội dung chính trị, trong bối cảnh chính trị còn nóng hổi. Ngay cả tác giả khi sáng tạo ra tác phẩm cũng đã bày tỏ quan ngại về một triển vọng biểu tình có thể xảy ra.


Hai lá cờ quốc cộng được ghép lại với nhau là một hình tượng táo bạo, tạo sự chấn động tâm lý đối với người xem. Tuy nhiên, đó không phải là một ý tưởng mới mẻ, bởi vì nó đã thoáng qua trong suy nghĩ của nhiều người. Đối với xã hội Việt Nam, cuộc nội chiến dai dẳng, với nhiều hệ lụy tàn khốc của nó, khiến không ai là không nghĩ tới tất cả những điều đã xảy ra, có thể xảy ra, và không xảy ra. Trong đó, tất nhiên có sự kết hợp hòa giải. Nhưng vì khoảng cách quá to lớn trong lòng người cả ở hai phía quốc gia và cộng sản, về quan điểm và hận thù, đã khiến ít ai cảm nhận là một thời điểm thuận tiện cho một kết hợp đã đến.

Vì thế, khi họa sĩ Huỳnh Thủy Châu cụ thể hóa sự kết hợp Quốc Cộng qua tác phẩm “Hai Lá Cờ” đã nhận được hai loại phản ứng rõ rệt. Một là lồng lộn chống đối, bởi vì sự “phản cảm” chính trị cực độ đến những gì họ tin tưởng.

Phía cộng sản không chấp nhận cờ vàng ba sọc đỏ. Phía quốc gia cũng chẳng chấp nhận cờ đỏ sao vàng. Phản ứng thứ hai, là người xem hiểu được ý của tác giả muốn nói gì, nhưng không rung động với tác phẩm, bởi vì, điều kiện cần thiết cho cảm xúc chưa có đủ. Biểu tượng hai lá cờ không đại diện cho cảm xúc về quan hệ trong ngoài của người Việt Nam hôm nay. Mặc dù, hai bên đã thông thương, qua lại. Người quốc gia ở hải ngoại có thể về Việt Nam, nhìn tận mắt những đổi thay, chia sẻ, và thông cảm với hoàn cảnh đời sống. Ngược lại, người cộng sản cũng đã vào Nam, ra nước ngoài để hiểu về suy nghĩ của người quốc gia ở hải ngoại. Nhưng tuyệt nhiên, những cảm thông này không dựa trên nền tảng chính trị, mà được dựa trên nền tảng nhân bản, đời sống và con người. Biểu tượng cờ đỏ sao vàng và cờ vàng ba sọc đỏ chỉ gợi lên những ý tưởng và cảm xúc liên quan đến chính trị, chiến tranh, và tranh chấp vẫn còn đang tiếp diễn, hơn là liên quan đến những điều nhân bản.


Về mặt nghệ thuật, tác giả sử dùng vật liệu “mền vá đắp” theo trường phái nghệ thuật dân gian Gen Bend Quilt của người da đen miền Nam nước Mỹ. Đây là ý tưởng hay, bởi vì hình thức mền truyền đạt cảm xúc ấm áp khá hữu hiệu. Tuy nhiên, việc thực hiện tác phẩm đã không nắm bắt được hết những yếu tố làm nên sự ấm áp đó. Sự ấm áp bắt nguồn từ niềm say mê thể hiện qua từng mảnh vải nhỏ được công phu lắp ráp lại với nhau, những nét chỉ không đồng đều, nhưng cẩn trọng, gợi cho người xem sự chậm rãi, chân chất, và chân thành.

Khi khảo sát tác phẩm “Hai Lá Cờ,” người xem có cảm giác của một sự vội vã trong việc thực hiện công trình vá đắp. Những mảnh vải đỏ được may chồng lên, thay vì được khâu nối lại, tạo nên một bề mặt không bằng phẳng. Màu sắc của “Hai Lá Cờ” không đủ ấm áp. Nền màu vàng chanh và màu đỏ cam tươi, đối chọi, làm người xem ước ao một màu vàng và màu đỏ đậm đà, hài hòa hơn. Nếu hai màu vàng đỏ còn có nhiều sắc độ đa dạng, được tách ra thành những mảnh nhỏ, nối kết lại sẽ làm cho tác phẩm có một chiều sâu cần thiết cho một đề tài có nhiều tầng nhạy cảm. Tuy trên mặt vải có thêu những những thông điệp, nhưng không để lại ấn tượng mạnh mẽ.


Về mặt ngôn ngữ tạo hình, tác giả chỉ dừng lại ở mức kết hợp có tính cách trang trí. Sự sáng tạo của tác phẩm chỉ là tạo ra một sự hài hòa đường nét và cân bằng của những mảng màu. Tuy nhiên, đường nét và những mảng màu khá đơn giản, không có đủ độ giao động cần thiết để với lên tới tầng cảm xúc của những người xem Việt Nam đã trải qua kinh nghiệm chia đôi đất nước, chiến tranh, vượt biên, và di dân.


Tác phẩm “Hai Lá Cờ” thành công một cách tương đối về mặt hình họa, nhưng thất bại vì đã không đạt được chiều sâu của đề tài. Ý tưởng kết hợp quốc cộng, qua tác phẩm, không thuyết phục, thậm chí còn tạo ra sự phản cảm. Có thể có nhiều người đến xem, nhưng sẽ có rất ít người có ý muốn muốn đắp một cái mền như thế cho những khoảng cách Việt Nam chưa được lấp lại trong lòng họ.

Giá trị của tác phẩm là sự táo bạo của họa sĩ. Chính sự phản cảm của tác phẩm đã giúp tạo nên những xung đột và tranh luận trong cộng đồng Việt Nam. Nhưng nhờ đó, cộng đồng Việt Nam có những đánh giá và tự hiểu mình hơn. Một trong những vai trò của nghệ thuật là tạo nên sự tranh luận và nhận thức.

Tác phẩm “Hai Lá Cờ,” dù vô tình hay cố ý, đã đóng một vai trò xúc tác một cách đắc lực. Tuy nhiên, tác phẩm chỉ dừng lại ở mực độ khởi động một cuộc tranh luận. Tác phẩm đã không đưa ra một đề xuất nhận thức mới mẻ nào.