Showing posts with label Bùi Bảo Trúc. Show all posts
Showing posts with label Bùi Bảo Trúc. Show all posts

5/24/09

Bùi Bảo Trúc ( II)

LÁ CỜ VIỆT NAM

Bùi Bảo Trúc (Việt Tide & LSR)

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh có hai bức ảnh rất nổi tiếng, đó là bức Tiếc Thương chụp một phụ nữ tay cầm tấm thẻ bài, những giọt lệ lăn trên má và bức Vá Cờ với một phụ nữ đang khâu lại lá cờ.
Một người khóc thương một người nằm xuống, một người kim chỉ vá lại chỗ rách của lá cờ là hai hình ảnh bi thảm của cuộc chiến. Một bức làm người ta nghĩ ngay đến người vì lá cờ ở dưới mà bỏ mình . Lá cờ có chỗ rách được vá lại cho lành, gìn giữ cái mà người lính trong bứùc ảnh kia đã vì nó mà hy sinh.
Tờ xuân Người Việt ở trang 194 có đăng một bài viết nửa trang của một người tên là Trần Thủy Châu nói là đang học cao học khoa Mỹ Thuật đại học UC Davis.
Bài viết đại khái nói về một gia đình làm móng tay, móng chân nuôi con đi học đại học.
Chuyện ấy không có gì đáng nói, nhưng kèm theo bài viết ngắn này là một bức hình chụp cái-gọi-là-tác-phẩm-nghệ-thuật của cô. Gọi nó là “tác phẩm” vì đó là chữ của cô ta, chứ bình thường ra mà xét thì cái mà cô ta sáng tác, nếu gọi việc lấy một cái chậu plastic mua sẵn về, quệt thêm một ít sơn vào là sáng tác thì cũng tội cho hai chữ sáng tác quá. Bức hình mầu chụp một chiếc chậu rửa chân dùng tại các thẩm mỹ viện, các tiệm làm tóc, làm móng tay.
Trông hình thì khó mà nghĩ nó là một tác phẩm nghệ thuật.
Chiếc chậu bằng plastic mầu vàng, có dây điện cắm vào ổ điện để giữ cho nước trong chậu được đúng nhiệt độ. Vòng quanh thành của cái chậu rửa chân mầu vàng là ba sọc mầu đỏ chạy hết vành phía trong chậu.
Phải là người chậm hiểu và thiếu thông minh và ngu xuẩn nhất mới có thể nói cái chậu với ba sọc đỏ trên thành chậu mầu vàng đó không làm cho người ta nghĩ tới lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa.
Và như thế, biểu tượng của một quốc gia đã được đặt vào cái chậu rửa chân.
Lá cờ phải bao nhiêu máu mới dựng được lên ở Quảng Trị, ở Huế, nay nằm trong cái chậu để rửa chân cho những thân chủ của một tiệm nail nào đó, bất kể đó là những bàn chân dơ dáy, hôi thối, ghẻ lở thế nào đi chăng nữa. Những cái chậu mà sau khi rửa chân cho khách hàng, nước ở trong trở thành “ dơ dáy, đục ngầu” như chính cô ta viết trong bài viết bên cạnh.
Con người ta là sinh vật duy nhất biết dùng biểu tượng. Lá cờ không phải chỉ là một miếng vải. Nó là biểu tượng của một quốc gia, của lịch sửû, của máu xương những người đã chết vì nó.
Đem xé nó, đốt nó, ném nó xuống đất, đạp lên nó là lăng mạ cái quốc gia mà nó biểu tượng. Những cuộc biểu tình bài Mỹ đều có kèm theo cảnh đốt cờ Mỹ, ném lá cờø xuống đất rồi lấy chân đạp lên.
Chỉ có loài vật, những con chó, những con ngựa mớùi không biết dùng biểu tượng.
Sáng tác phẩm của Trần Thủy Châu, nếu gọi đó là sáng tác của cô, là một sự lăng mạ, sỉ nhục cái đất nước mà cô có thể đã ra đời ở đó, mà gia đình cô, cha mẹ cô cũng đã có thời sống ở đó, dưới lá cờ đó, ở Huế, nơi những người lính nhẩy dù Việt Nam phải đổ bao nhiêu máu mới kéo được lá cờ mầu vàng có ba cái sọc mầu đỏ lên cột cờ ở Phú Văn Lâu.
Hình ảnh mang đầy sỉ nhục đó mà lại được đem đăng trong giai phẩm xuân của báo Người Việt thì không hiểu được.
Cô ta và báo Người Việt sẽ nói việc làm đó là quyền tự do mà hiến pháp Mỹ bảo vệ. Đúng. Nhưng cứ thử vẽ hình một người đàn ông râu ria tay cầm cuốn kinh Koran vào cái chậu rửa chân rồi đăng lên báo coi những chuyện gì sẽ xẩy ra.
Nói rằng vẽ cái cờ vào chậu rửa chân thì có sao đâu thì có thể gia đình của cô cũng đặt bài vị tổ tiên, bàn thờ gia tiên trong cầu tiêu, vì để như thế chắc cũng không sao phải không cô họa sĩ.
Cô nói là cô hy vọng qua tác phẩm nghệ thuật — chữ của cô – cô hy vọng ít nhiều tôn vinh được những người Việt Nam dũng cảm.
Việc vẽ lá cờ vào cái chậu rửa chân không thể là việc tôn vinh những người Việt Nam và đất nước Việt Nam như con ranh con hỗn láo vô gíao dục, mất dậy Trần Thủy Châu này đã nói. Phải dùng những chữ như thế để nói về một một con nhãi con đã lăng mạ lá cờ của mấy chục triệu người Việt, mà vì lá cờ đó, bao nhiêu người đã chết. Lá cờ bay trên cột cờ Phú Văn Lâu, trên cổ thành Quảng Trị, ở Bình Long, đắp trên quan tài của những người lính, trên những nấm mộ tử sĩ ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.
Nó phải được tôn kính thay vì đem vẽ vào cái chậu rửa chân như con ranh con khốn nạn đã làm và gọi đó là tác phẩm nghệ thuật và được đăng trên báo xuân Người Việt.
Phải nói cho chúng nó, những đứa lăng mạ, xúc phạm lá cờ này biết điều đó.

Bùi Bảo Trúc

ĐI RỒI -

Bạn ta,

Gia đình một người bạn của tôi có một cách trả lời điện thoại rất kỳ lạ. Bất cứ ai gọi đến xin được nói chuyện với ông, nếu ông có nhà, thì người nhà không nói gì, chỉ lẳng lặng đưa điện thoại cho ông. Người nhấc máy điện thoại lên, bất kể là người nào trong nhà, cho đó là bà vợ hay mấy người con thì cũng chỉ làm như thế. Im lặng, đưa cái điện thoại, không nói gì thêm.

Khi ông không có nhà, thì những người trong nhà, bất kể già trẻ, lớn, bé, nhấc máy trả lời cũng chỉ hai tiếng "Ði rồi" và bỏ máy xuống. Không phải là "Ði vắng rồi … đi khỏi rồi … không có nhà … vắng nhà …"
Bao giờ cũng chỉ là "đi rồi".

Tôi bắt đầu sợ hai tiếng này sau chuyến đi mới đây lên miền bắc và hỏi thăm về một người lâu ngày không gặp. Người bạn đáp: "Ði rồi".
Tôi bỗng nhớ những câu trả lời trong điện thoại. Tôi thấy gia đình này phải đổi cách trả lời. Không nên bằng hai tiếng "đi rồi" nữa.
Ở tuổi này, chữ "đi" mang một nghĩa khác.
Trong những lúc nói chuyện với những người tuổi tác như những người bạn, và luôn cả chính tôi, không nên dùng chữ "đi" này nữa.

Ngày xưa, nói "khi nào anh đi " thì chẳng sao cả. Ngày ấy, câu "bao giờ, khi nào anh đi" có thể nghĩa là bao giờ anh đi chơi, đi học, đi lính, đi quân trường, đi đơn vị, đi Mỹ... Bây giờ, cũng câu đó, người nghe có khi rất chột dạ.

"Ði" có nghĩa khác mất rồi. Như một cú điện thoại cách đây mấy năm của cô em gọi từ Canada vào một buổi tối và nói: "Mợ đi rồi."
Không cần phải hỏi "Mợ đi đâu, đi Montreal, đi Toronto, đi chùa, đi thăm bác Tám, đi Việt Nam, đi sang Mỹ, đi Pháp, đi Thượng Hải, đi Hàng Châu …" mặc dù những nơi đó mẹ tôi đã đi ít thì một lần, nhiều thì vài ba chục lần.
Cú điện thoại trong đêm khuya mà lại nói một người có tuổi "đi rồi" thì chỉ có thể "đi" một chỗ. Ði là đi theo ông cụ tôi. Ông cụ tôi đi trước đó hai năm.

Ði không còn có nghĩa là ra đầu đường đón chuyến metro, ra phi trường lên cái máy bay đi thăm chúng tôi. Với người thân hay những người chúng ta yêu quí, chúng ta không dùng chữ "chết" vì chữ "chết" dữ dội quá.
Chết trận, chết vì tai nạn, chết đuối, chết vì sét đánh.
Không ai nói "đi" trận, "đi" tai nạn bao giờ.
Ði. Không cần phải nói đi đâu. Cứ đi là nghe biết ngay.
Hỏi thăm người bạn về một người khác. Người bạn đáp đi rồi. Ði cách đây hai năm.
Không cần phải hỏi đi đâu? Ði bao giờ về? Ði một mình hả? Ði sao không nói gì?
Ði rồi.

Tôi bỗng thấy sợ cái động từ này. Thôi, bây giờ không dùng động từ đi để nói về những di chuyển nơi chốn, từ nơi này đến nơi khác, từ tỉnh này qua tỉnh khác nữa.
Phải nói rõ: anh ấy, ông ấy vừa bay sang Washington… tuần tới lại về LA, sau đó lại lên đường qua Canada.
Không nói đi nữa. Không hỏi bao giờ anh đi, ông đi, bà đi nữa. Hỏi vớ vẩn có khi bị la không cãi được… ô hay tôi còn khỏe thế này sao lại nói là … đi ?

Thế thì bây giờ chắc cũng phải đổi một câu trong bài Biển Nhớ của Trịnh Công Sơn.
Ông Sơn viết: Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về…
Không được, phải hát là ngày mai em đi, ngày mốt em quay trở về mới được.

Tuổi này mà cứ nói ngày mai em đi thì sợ lắm.

- Bùi Bảo Trúc -
8/08/2007
(Nguồn : Thư gửi bạn ta)