Nghĩ lại. Thà mình có một hai người chú tâm hết lòng coi mình hát, còn hơn hơn 2000 người mà tạ hoạ ra như thế này. Sorry cho cô Khánh Ly !
12/2/12
Ngao ngán
Nghĩ lại. Thà mình có một hai người chú tâm hết lòng coi mình hát, còn hơn hơn 2000 người mà tạ hoạ ra như thế này. Sorry cho cô Khánh Ly !
4/28/12
Anh í
Anh í phải đội mưa tháp tùng các mợ. Cứ vòng vo mãi hết hai ngày thế này .
Nên anh í rất mệt.
Mệt nên sên sến thế này nè.
Ăn trưa xong tất nhiên tới cơm chiều.
Chồng con mợ Lún Ghẻ ăn khen ngon. Bánh Xèo ordered trước. Mẹ làm cái này cho Xèo mai ăn trưa. Mẹ nói Anh í làm nhiều nhét tủ lạnh mai cho Xèo. Nhưng hàng của anh í đắt. Bà con vét hết. Hôm sau mẹ Lún bắt chước anh í làm cho Xèo món này. Nói Xè ăn thử xem có ngon như anh í làm không. Xèo phán liền. Anh í làm ngon hơn mẹ rồi. Nhột ghê !
Sau bữa ăn tối, anh í phải làm bữa ăn đêm. Ăn đêm là lúc 12 giờ đêm rạng sáng hôm sau í. Tiếng anh chắc gọi là "supper after big dinner"
Thịt bò chia làm 4 dĩa to đùng thế này... 12 giờ đêm nhá.
Cho cái anh đẹp chai có tài năng này và vợ chồng Lún Ghẻ nhắm với mí chai rượu trên bàn đó. À, có dịp coi bộ film đen trắng "Bookie" của anh chàng này. Đẹp không ngờ. Xỉn xỉn rồi ngồi tán chuyện art và film thâu đêm nha. Sướng gì đâu. Đời artist chỉ ước tới đó thôi là chít được rồi. Anh í nhỉ?
Tăc tặc, anh í lên Seattle mà như thế thì anh í rất mệt. Anh í nói anh í nằm xuống rồi không muốn đứng lên nữa. Chỉ muốn nằm luôn thế này thôi.
Và. Chỉ muốn lên tàu dông tuốt về Đức thôi.
Nhưng cũng chưa được vì anh í còn phải take care Happy . Anh í dẫn Happy đi chơi. Rồi lại tắm cho chàng. Nên Happy không fall in love với anh í mới làm chuyện lạ.
Kết luận:
Tất cả mọi người chúng ta hãy noi gương , sống , học tập, làm việc và ăn chơi cực nhọc như anh í nhá.
3/24/12
‘Có thay đổi, tức có sự sống’
| VAALA triển lãm ‘Ðời Sống Tuần Hoàn’ Friday, March 23, 2012 2:44:25 PM | ||||||
Ngọc Lan/Người Việt
SANTA ANA (NV) - “Ở đây có những bức tranh thể hiện rõ sự đột phá. Người Mỹ rất thích khai phá những sự mới mẻ, không cần biết đó là cái gì, nhưng khi có sự khai phá, có sự thay đổi, tức là có đời sống, có sự biến đổi.”
Ông Thân Nguyễn, một khách tham quan có mặt tại buổi khai mạc triển lãm “Ðời Sống Tuần Hoàn” (Cycles of Life) hôm chiều Thứ Bảy, nêu nhận xét. “Ðời Sống Tuần Hoàn” là cuộc triển lãm tranh do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt-Mỹ (VAALA) tổ chức nhằm đưa đến giới thưởng ngoạn tác phẩm của 24 họa sĩ và nhiếp ảnh gia thuộc nhiều thế hệ, bắt đầu mở cửa từ chiều Thứ Bảy, 17 tháng 3 đến hết ngày Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012. Bước vào phòng triển lãm, ấn tượng đầu tiên có thể nhận ngay ra được đó là một không gian thoáng đãng và sang trọng. Ðể từ đó, người xem có được cảm giác ung dung và thư thái bước vào chiêm nghiệm thế giới của “Ðời Sống Tuần Hoàn” qua cách nhìn, cách cảm, cách thể hiện của nhiều thế hệ nghệ sĩ. Nói như họa sĩ Ann Phong, một trong ba giám tuyển của cuộc triển lãm: “Nhìn về cuộc triển lãm hôm nay, quý vị sẽ thấy có nhiều tác giả cũng như nhiều cách thể hiện chủ đề. Chủ đề chỉ có một là sự sống. Nhưng mỗi người nhìn sự sống rất khác nhau. Có người nhìn bằng mắt để thưởng thức cảnh trời đẹp. Có người nhìn bằng sự suy nghĩ. Có người nhìn bằng cách cảm. Từ đó, mỗi người thể hiện một cách khác nhau điều mình hiểu về sự sống. Có người tả thực. Có người chỉ lấy ý để tạo nên những bức tranh trừu tượng. Thành ra mỗi bức tranh mang một sự sống khác nhau. Ðiều đó tạo thành cái đẹp của tranh.” Ðến với triển lãm, người xem có thể nhìn thấy những bức tranh đi theo “kiểu cổ điển” của họa sĩ Nguyễn Thị Hợp. Hình ảnh trong tranh Nguyễn Thị Hợp luôn là hình ảnh người phụ nữ nông thôn của thế kỷ 19 với tóc vấn, yếm đào, váy đụp. “Nhưng điều mới là họa sĩ Nguyễn Thị Hợp phá đi những nét cổ điển bằng cách cho những cô gái trong tranh mặc đồ theo cách tự do, có vẻ như trễ nãi, không che hết các bộ phận 'nhạy cảm' trên người. Và đó là cách người họa sĩ muốn thể hiện sự sống.” Họa sĩ Ann Phong nhận xét.
Có những tác phẩm mà người xem thấy được người họa sĩ cảm nhận sự sống đi ra từ cảnh vật xung quanh như bức “Ánh Trăng” của họa sĩ Nguyên Khai. Có vẻ như người họa sĩ này nhìn thấy ánh trăng lung linh trên mặt nước và ông chỉ bắt ngay tâm trạng lúc đó để đưa vào tác phẩm của mình và người xem sẽ chỉ thấy sự lung linh của bức tranh. Việc bắt gặp được những cảm xúc, những tâm trạng đó chính là cuộc sống. Từ 120 tác phẩm nghệ thuật được gửi đến từ khắp nơi, như từ Pennsylvania, Virginia, Boston, San Jose, Seattle, và thậm chí ở Vũng Tàu, Việt Nam, ban giám tuyển chọn ra 40 tranh triển lãm. Trong số đó, có những họa sĩ vẽ bằng màu dầu, có họa sĩ vẽ bằng acrylic, có họa sĩ dùng nghệ thuật đan thêu, có người làm tượng, có người làm video, có người chụp hình photography. Họa sĩ Mike Ðỗ đến từ San Jose, từng là kỹ sư điện tử, mới bắt đầu cầm cọ từ 2 năm qua, chia sẻ, “Ðây là lần đầu tiên tôi tham gia triển lãm tranh, trước giờ chỉ vẽ ở nhà thôi. Nhân dịp VAALA tổ chức, tôi thử gửi xuống 5 tấm tranh, thì được chọn 1 tấm.” “Tôi rất là vui khi có tranh được chọn triển lãm. Niềm vui thứ hai là có cơ hội được gặp nhiều họa sĩ khác trong lần cuộc triển lãm này, cũng như có cơ hội tham dự một số sinh hoạt văn nghệ của cộng đồng Nam Cali.” Ông Mike Ðỗ nói thêm. Có mặt từ đầu buổi khai mạc triển lãm “Ðời Sống Tuần Hoàn,” một khách thưởng lãm không muốn nêu tên, chỉ vào bức tường, trên đó có hai bức tranh nhỏ mang tên “The Outsite... When Younger” của họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi, bức “Vũ Trụ” của họa sĩ Cao Bá Minh, và bức “Trắng Một Màu” của họa sĩ Huỳnh Thủy Châu, ông nói: “Bức tường này, theo tôi, nói lên được tất cả ý nghĩa của chủ đề cuộc triển lãm này.” “Hai bức tranh đầu là 'nothing,' giống như mình mới đẻ ra, vô nghĩa, không có giá trị gì hết. Bức thứ nhì ‘Vũ Trụ’ cho thấy sự sung sướng, sự tự do của một con người như có cả vũ trụ. Và bức cuối cùng ‘Trắng Một Màu’ thì rõ ràng chứa đựng sự đau khổ rồi. Nhìn là thấy khổ. Vậy thôi. Ðó là cuộc đời. Tôi thích bức tường này.” Vị khách nêu cảm nhận. Bức tranh đan thêu dưới hình thức một tấm mền - quilt - có tên “Trắng Một Màu” của họa sĩ Huỳnh Thủy Châu, hiện đang sống tại Seattle, là một trong những tác phẩm đặc biệt tại triển lãm “Ðời Sống Tuần Hoàn.” Hoàn cảnh ra đời của “bức tranh” này, theo họa sĩ Huỳnh Thủy Châu, là “Sau 49 ngày Má mất, tôi cắt vải thừa của miếng khăn tang, may vào tấm quilt như một cái khăn tôi để tang Má tôi với tư cách họa sĩ. Ngày khâu xong mũi may cuối cùng. Cuối Tháng Tám. Là cái ngày tôi sụp xuống. Kiệt sức. Không phải vì mệt. Mà vì. Thế là xong. Tôi không biết phải bước tiếp như thế nào nữa. Ðó là một ngày mà tôi cảm thấy thấm thía cái đau mất mẹ, mồ côi và hụt hẫng nhất. Xong rồi. Mình bước tiếp làm sao đây. Chẳng có ai dạy chúng ta phải cư xử làm sao khi mồ côi. Chả trường chả lớp hay văn bằng cấp cho chúng ta cái chứng chỉ mồ côi.”
Trong khi đó, nhận xét về tác phẩm này, họa sĩ Ann Phong cho rằng: “Thêu là thể loại có từ thế kỷ 18, 19 của Mỹ, khi người da đen vượt từ miền Nam lên miền Bắc để sống để thoát ra khỏi thời nô lệ thì những bức tranh đan thêu chính là những bức tranh chỉ đường cho họ đi, từ miền Nam lên miền Bắc... Chúng tôi thấy được nét đặc biệt của Huỳnh Thủy Châu tức cô lấy được nét truyền thống của Mỹ nhưng lại diễn đạt theo kiểu người họa sĩ Việt Nam...” Là một nhiếp ảnh gia có những bức hình được chọn triển lãm lần này, anh Benjamin Vũ tâm sự, “Tôi cảm thấy có vẻ lạc loài chút xíu vì ở đây toàn là tranh, họa canvas, oil painting, nhưng lại có một số tranh photography trong đây. Tôi nghĩ tôi được góp mặt trong triển lãm này là bởi cái duyên, trên đời này cái gì cũng từ duyên mà ra.” Nói về chủ đề triển lãm “Ðời Sống Tuần Hoàn,” anh Benjamin cho rằng “đây là một đề tài hay.” “Nếu không có cũ thì làm sao có mới. Với tôi, nhiếp ảnh trung thực hơn ở chỗ tôi nhìn thấy được sự thật cuộc sống qua ống kính. Nhiếp ảnh đưa chúng ta thấy được sự thật của hôm qua và hôm nay. Còn ngày mai ra sao thì mình chưa biết.” Nhà nhiếp ảnh này nói. Triển lãm “Ðời Sống Tuần Hoàn” tại Trung Tâm Văn Hóa VAALA, 1600 N. Broadway (góc đường Seventeenth), Santa Ana, CA 92706 kéo dài đến ngày 1 tháng 4. Cuộc triển lãm mở cửa mỗi cuối tuần, Thứ Bảy và Chủ Nhật, từ 12 giờ trưa đến 5 giờ chiều.
––––––––––- |
6/15/11
Ẻm
5/24/09
cờ đỏ cờ vàng
- Entry for February 24, 2008
- Ban không dám đăng, thì đăng giùm ban
-
Nhân chuyện có những người nhân danh cho cái gì gì đó đến 1 trường đại học ở California yêu cầu trường đó phải tháo cái cờ đỏ sao vàng (biểu tượng cho nước CHXHCN VN) xuống và treo cờ vàng 3 sọc đỏ (biểu tượng cho nước VN Cộng Hòa) lên. Tui bỗng nghĩ như vầy:
Nên chia VN làm 2 ‘nước’ khác nhau: 1 VNCS và 1 VNCH.
Những ai trưởng thành sau ngày 30/4/1975 tại VNCS, không biết gì về VNCH thì đương nhiên là người của VNCS, và không cớ gì bắt họ phải thừa nhận cái gọi là VNCH, bởi vì đó là 1 cái gì đó không có thật và không hiển hiện trong cuộc đời họ.
Những ai không chấp nhận được VNCS, thì cứ ‘giữ quốc tịch’ VNCH, hoặc ‘nhập quốc tịch’ VNCH và có quyền tự hào về một quá khứ vàng son đã qua, cũng như ôm ấp giấc mơ một ngày vinh quang quay về chốn cũ.
Không ai có quyền xâm phạm đến quyền tự hào về quốc gia mình, nhất là ở trên xứ Mỹ tự do này.
Vậy, nếu có những người thấy chướng mắt thì cứ việc đề nghị treo cả 2 lá cờ của VNCS và VNCH trong cùng 1 trường đại học, và cho rằng đó là 2 quốc gia khác nhau!
Vì nếu treo cờ đỏ sao vàng thì bị người VNCH phản đối, cho rằng như vậy là không thừa nhận VNCH.
Còn nếu treo cờ vàng 3 sọc đỏ thì những người VN di dân mới sau này hoặc du học sinh sẽ thắc mắc tại sao không có cờ đất nước VNCS của mình.
Giả sử các trường đại học đó cảm thấy sao rắc rối quá, cờ VNCH hay VNCS gì cũng không treo nốt, thì khi đó… eo ôi, có 1 nước VN nào tồn tại trên bản đồ thế giới không nhỉ?
Ngoc Lan
- Entry for February 24, 2008
- Len lén chào cờ
- Vu cờ đỏ cờ vàng đang xôn xao bên blog nhà ban Lan. Tôi cũng góp vô mấy câu cho ồn cửa ồn nhà người ta.
Rằng là bây giờ ai muốn treo cờ nào thì treo là khoẻ nhất. Không thích cờ đỏ thì treo cờ vàng. Không ưa cờ vàng thì treo cờ đỏ. Đặt biệt ai mà ưa luôn hai lá cờ thì chắp chắp vá vá lai rồi treo lên.
Mà không ưa luôn cả hai lá cờ thì treo cờ Mỹ . Hoặc không cần phaả treo gì hết là sướng.
Nếu đươc vậy thì quá khỏe rồi. Nhưng sẽ có những người thích treo cờ nhưng sơ bi biểu tình, sơ đi tù hay sơ bi cướp blog ( zụ này nghe chướng tai nhưng tôi thề là có thiệt 100%, nói láo hộc máu chết tai chỗ).- Thì.
Lén lén tà tu lá cờ mà mình ưng vô ngưc trái, hay nếu vẫn còn sơ là đi bơi người ta thấy.
Thì.
Chịu đau một chút. Tà tu cái cờ đó vô thẳng trong trái tim. Rồi lén lén treo lên. Len lén hát quốc ca. Len lén chào. Len lén tự hào vậy. Len lén sướng.
Sau vụ cờ quạt biều tình rầm trời ở Sài Gòn Nhỏ, chồng tôi bắt đầu xử ép tôi ( đã xử mà còn ép nữa, quá khổ lun ).
Là.
" Em mà không nghe lời anh, lạng quạng anh chở em xuống Sài Gòn Nhỏ, trưng em ra trước đám nguời đang biểu tình trước báo Người Việt, là em có tà tu hình cờ đỏ sao vàng, là ngưòi ta đem em ra đấu tố".
Hoảng hồn. Cái tà tu hình cờ đỏ sao vàng tôi có sẵn từ lúc mới đẻ, ai biết đâu nè. Giờ làm sao mà tháo ra .- Nên .
Tôi phải đi tà tu thêm một lá cờ vàng kế bên. Đau thiệt là đau . Nhưng vậy chắc ăn .
Cũng vì vụ mang hai lá cờ trong tim, nên có người khác " chup nón lá" tôi là " nhi trùng gián điêp".
Chơi lun hai bên.
Thì thôi cũng đươc. Nhi trùng hay ba bốn trùng gì cũng đươc. Ai yêu cờ nào , mà là người Việt Nam, biết ăn nước mắm thì tôi cũng thương hết.
Mà tôi cũng chỉ dám thương len lén thôi. Vì chồng tôi ghen kiếp lắm.
À, ban Lan muốn coi hai cái tà tu trong tim của tôi. Đợi vài bữa đi chụp X- ray đã nhá. Rồi coi lun.
5/19/09
Từ câu chuyện của một thuyền nhân
Using the story as the initial inspiration, we each pursuited our own project differently.
One is series of paper boat drawings. Another one is this story below. It is quite a story.
Thanks for An Nguyen, who really took his time to recall his unique story so we could fulfill our project. Hope that our readers, here and back in Vietnamese as well, understand and appreciate this story as a part of our painful history so as a VietNamese, together we can move on to have a better future, if not for us, then for our youngers.
Từ câu chuyện của một thuyền nhân
Bên ghè đá của một bờ biển Nam Cali, trong rì rầm tiếng sóng của một chiều chưa tắt nắng, tôi trôi miên man trong câu chuyện của một thuyền nhân mang tên An Nguyễn.
“Tôi sinh ra tại miền Nam Việt Nam, vào một ngày tháng 8 năm 1965. Cha tôi là một người lính trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Mẹ tôi buôn bán nhỏ. Khi cộng sản Bắc Việt tiến chiếm miền Nam tháng 4 năm 1975, cha tôi, như trăm ngàn người lính miền Nam khác, phải vào các trại “học tập cải tạo” để hứng chịu sự tra tấn cả về thể xác lẫn tinh thần qua những công việc lao động hà khắc, qua cái thiếu ăn khủng khiếp, cũng như qua các trại biệt giam trong 12 năm ròng rã. Công việc buôn bán của mẹ tôi cũng bị tịch thu. Chúng tôi đã phải làm tất cả mọi chuyện mà chúng tôi có thể để xoay xở với cuộc sống. Tôi không hề nghĩ rằng bằng cách nào mà chúng tôi đã tồn tại qua những năm tháng đó.
Từ năm 1979 đến 1981, tôi đã nhiều lần thất bại trong việc trốn thoát khỏi Việt Nam, và bị bắt hai lần. Mỗi lần, tôi chỉ ở tù một tháng, bởi mẹ tôi đã lo lót cho tôi thoát ra ngoài. Trong tù, tôi cũng bị đánh đập nhưng tôi không xem đó là sự tra tấn. Bởi so với những gì mà cha tôi đã trải qua, nỗi đau mà tôi phải chịu chỉ như trò con trẻ. Cuối cùng, vào tháng 8 năm 1981, ở tuổi 16, tôi đã trốn đi thành công trên một chiếc thuyền nhỏ để đến được Hồng Kông sau 4 ngày trên biển ‘South China’. Trải qua 8 tháng ở trại tị nạn, tôi đến Mỹ vào tháng 4 năm 1982…”
Có thể hình dung vài nét phác thảo về diện mạo của An là như thế. Diện mạo đó tôi cũng như bạn có thể bắt gặp trong hàng triệu thuyền nhân khác đang sống quanh đây hay ở bất kỳ một quốc gia nào khác trên trái đất này.
Nhưng để tìm hiểu một con người, một số phận, không thể chỉ dừng lại ở một dáng vẻ bề ngoài. Mỗi cuộc đời là một câu chuyện, câu chuyện đó có thể nhàm chán với người này nhưng lại là nguồn suy nghĩ cho người khác. Câu chuyện của An Nguyễn – chỉ là những mảnh kí ức cóp nhặt từ những gì còn ghi dấu trong tiềm khảm – cứ như một ma lực dẫn dắt tôi miên man trong nhiều dòng suy nghĩ, cái này dẫn tới cái kia, chuyện này liên quan chuyện nọ, tất cả cứ như xô đẩy, chen lấn nhau để mà hiện hình sao cho thật rõ ràng, thật cụ thể trong miền tâm tưởng của tôi.
Tôi suy nghĩ về từ “escape” mà An đã dùng nhiều lần để nói về chuyện “vượt biên” của mình. Tôi đã nghe cả trăm cả triệu lần từ ‘vượt biên’ nhưng sao tôi vẫn thấy lòng thật nặng khi bắt gặp từ ‘escape’. Tại sao người ta phải trốn chạy, phải cố gắng bằng mọi cách thoát đi để tìm cho mình một con đường sống khi mà Sài Gòn ‘giải phóng’?
“Ba mẹ tôi có 7 người con trai và 3 người con gái. Tôi thứ 8, thứ 9 là một đứa em trai và 10 là cô em gái. Hai người anh lớn của tôi vượt biên đến Paulau Bidong , Malaysia năm 1978. Sau đó 3 người anh nữa đến đảo Galang , Indonesia năm 1979. Kế tiếp là anh rể tôi đi năm 1980. Tôi đi năm 1981… Rồi đến chị tôi, rồi em trai tôi…”
Gia đình An chỉ là một điển hình cho chuyện “escape”. Không phải chỉ là một, là hai, mà là hàng trăm, hàng triệu người đã phải ‘trốn chạy’ như thế, để tạo thành một làn sóng di tản, tạo nên cả một trang sử thuyền nhân vô cùng bi thảm. Thế nhưng trong số hơn 80 triệu người Việt Nam còn nơi quê nhà, có bao nhiêu người hiểu hết được câu chuyện của những thuyền nhân vượt biển? Bao nhiêu người tận mắt đọc được những trang đẫm nước mắt của dân tộc mình trên cùng một quyển sách mang tên “Lịch Sử Việt Nam”?
Mỗi lần đọc chuyện của những người vượt biên là tôi cứ lại nhớ về một người bạn của mình: Trần Thị Cẩm Hồng. Kết thúc năm học lớp 10, cả lớp gần 40 đứa tụ tập đi Lái Thiêu. Không có anh em Hồng-Hùng trong số đó. Chiều ngày hôm sau, ngày cuối cùng của tháng 5 năm 1988, Như Hà đạp xe lên nhà tôi và báo tin “L ơi, Cẩm Hồng chết rồi!”. Tôi sững sờ: “Sao Hà biết?”, rồi chợt nhớ ra là Như Hà và Cẩm Hồng ngồi cạnh nhau suốt năm học đó… Trong hành trang mang theo cho chuyến vượt biển của mình, Hồng đã mang theo quyển Nhật Kí mà trang đầu tiên đã ghi: “Nếu ai nhặt được quyển sổ này xin hãy mang đến cho bạn tôi: Nguyễn Thị Như Hà, địa chỉ…”. Hà nói: người mang quyển nhật kí đã tìm đến nhà của Hà ở quận 11 để trao và kể lại: “một chiếc tàu vượt biên bị bắn ở Mỹ Tho, nhiều người chết… trong số những thứ người ta vớt được có quyển sổ này…” Tôi nhớ sau đó tôi vào nhà kể cho ba má tôi nghe, xong tôi lên gác ngồi khóc… Tôi thực sự không nhớ rõ ràng cảm xúc của mình khi đó, qua những dòng nhật kí còn lưu giữ, tôi chỉ biết rằng “Lần đầu tiên trong đời mình cảm thấy thế nào khi một người bạn không còn có mặt trên trái đất này…” Như Hà, tôi và 1 vài người bạn nữa đã đến để chia sẻ với mẹ Cẩm Hồng… Ngày 3 tháng 6, chúng tôi cũng đã cùng nhau về Mỹ Tho để mong được dự đám ma bạn bởi người nhà báo tin hôm đó sẽ vớt được xác… Chúng tôi đã ngồi đợi ở một ngôi chùa đến tận chiều tối, vẫn không thấy tăm hơi… Hai ngày sau, nghe mẹ Hồng nhắn đã tìm thấy xác anh trai của Hồng, còn Hồng thì vẫn trôi mãi nơi đâu… Nhiều đêm sau đó, Như Hà vẫn cứ hay nằm mơ thấy Hồng “quay về”: “Hà ơi, Hồng lạnh lắm!…” Hà kể, và chúng tôi lại ngồi khóc với nhau… Hà không duy tâm, tôi cũng vậy, nhưng tôi tin có những niềm dự cảm như thế…
Quay về câu chuyện của An Nguyễn. An kể về cái đêm ngồi chờ xuống tàu trên một cái ‘gì đó’ của những người đánh cá: “Tôi ngồi trên đó, tự giữ thăng bằng trên những chiếc cọc gỗ, giống như người ta làm xiếc vậy, nếu không tôi sẽ chết. Dĩ nhiên là tôi RẤT sợ. Tôi ngồi một mình nơi đó lúc giữa đêm khuya. Tôi nhớ là tôi RẤT sợ, tôi nghĩ đến chuyện nếu tôi té xuống, tôi sẽ chết. Ðến tận bây giờ, mỗi lần nhớ lại cảm giác lúc đó, tôi vẫn còn nghe ‘lạnh xương sống’… Tôi không cảm thấy cô đơn, mà chỉ thấy sợ hãi, sợ bị bắt, nhưng hơn hết vẫn là sợ rơi xuống và chết. Tôi cố gắng giữ chặt lấy những cây cọc chung quanh, để giữ thăng bằng cho mình… Tôi đang cố gắng giữ lấy cuộc sống thân thương này…”
Tôi đọc không biết bao nhiêu lần đoạn kể trên, mà mỗi lần đọc là mỗi lần day dứt: những người vượt biển không phải là những người không biết sợ. Nhưng có cái gì còn đáng sợ hơn nữa để họ phải bất chấp nỗi sợ như An? Hay có thể sẽ phải chịu những cái chết tức tưởi như bạn tôi khi chưa bước qua được tuổi 16? Người ta chỉ sợ chết khi người ta còn tha thiết lắm với cuộc sống này. Và đã sống thì phải sống sao cho đáng một kiếp người, được đối xử như một con người.
Nói về lí do vì sao phải ra đi, An chỉ nói một cách ngắn gọn: “Gia đình tôi cũng như nhiều người khi đó. Càng ngày càng không thể sống được ở Việt Nam, vì thế chúng tôi phải ra đi.”
Câu trả lời nhẹ tênh cùng lí do tưởng chừng quá đơn giản nhưng sao cứ như xoáy vào đầu tôi một câu hỏi: Còn gì đau đớn hơn khi người ta không thể tồn tại được ngay trên mảnh đất quê hương mình, phải rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn bằng những cuộc vượt biên, trốn chạy để rồi phải mang trên mình tên gọi là “kẻ phản quốc”?
Tôi đã dừng lại thật lâu ở đoạn An nói về “soul catcher” mà tôi chưa biết phải diễn tả nó như thế nào bằng tiếng mẹ đẻ của mình cho thật hết
những gì chất chứa trong 2 từ đó: “Những người Việt Nam vượt biên không phải là những kẻ phản quốc. Họ yêu tha thiết quê hương mình, và tình yêu đó càng mạnh mẽ hơn nhiều sau khi họ vượt biển ra đi. Họ ra đi chỉ vì họ không thể sống thêm được ở đó. Hãy hỏi bất kỳ thuyền nhân nào để biết rằng những năm đầu sau khi vượt biên, ai cũng nhớ nhà kinh khủng, họ luôn nằm mơ, giấc mơ đúng nghĩa hằng đêm: mơ được trở về. Ðó là sự hòa quyện đan xen của những cảm xúc ngổn ngang trái ngược: vui mừng biết bao khi thoát khỏi quê hương và khao khát vô cùng sự trở về…”
Sẽ không thể nào hiểu hết được tâm trạng đó của An cũng như những người vượt biển khác khi không biết rằng ở vào thời điểm ấy ra đi là không có hy vọng ngày trở về, hay nói đúng hơn ngày được quay về hãy còn là cái gì mờ mịt lắm! Cũng là một quy luật của muôn đời: cái gì không ở trong tầm tay thì lại càng khiến cho người ta cháy bỏng hơn những nỗi khát khao. Hiểu được như vậy thì mới hiểu hết nỗi ‘nhớ nhà kinh khủng’ mà An nhắc đến nó khắc khoải và da diết đến mức nào!
“Soul catcher” – người ‘bắt giữ’ linh hồn đó của những thuyền nhân không ai khác hơn là quê hương. Có làm người xa xứ tha hương thì mới cảm thông hết được nỗi niềm lưu luyến mảnh đất cha ông. Ði đâu, ở đâu, làm gì rồi thì linh hồn của mỗi người cũng đều có 1 hướng để vọng về: nơi chôn nhau cắt rốn. Không thể chối bỏ, không thể khước từ: “soul catcher”.
Tôi nhớ vào những ngày tháng đó, anh trai tôi, cũng bằng tuổi An, cũng là một thuyền nhân. Từ đảo Galang, mỗi lá thư anh gửi về nhà là mỗi lá thư đẫm nước mắt của ba má và các anh chị em tôi. Tôi cứ nhớ hoài khi ấy tôi chỉ mới 8, 9 tuổi, tôi đọc lá thư anh viết: cứ sau những giờ lao động làm thêm để kiếm tiền, anh vẫn thường ghé đến những ‘ngôi trường’ dạy trẻ em tị nạn, nhìn những đứa bé đó và hình dung ra chúng tôi – những đứa em gái ở nhà – bây giờ đã thay đổi ra sao, rồi anh ao ước giá như anh được quay về để nói rằng anh thương chúng tôi lắm… Tôi đọc và nước mắt cứ chảy, cứ nghe tim mình thắt lại như ngay lúc này…
Tôi lại chợt nhớ đến tâm sự của một người từng làm báo, sang định cư nơi đây theo diện H.O vào đầu những năm 1990. Anh nói: Người Việt nơi đây (trên đất Mỹ này) mang những nỗi niềm mà các dân tộc khác không hề có. Tôi chưa thực sự hiểu nỗi niềm anh muốn nói đến là gì, nhưng tôi cứ trăn trở với câu nói đó. Và tôi lí giải nó theo cách riêng của mình.
Nỗi niềm đó, phải chăng là nỗi niềm như An vừa kể, nỗi niềm của những kẻ tha hương, không thể sống trên mảnh đất tổ tiên, chọn quê người làm chốn dung thân, nhưng vẫn canh cánh trong lòng ngày trở về. Nỗi niềm ‘giữa hai miền mưa nắng’ như nhà văn Hoàng Mai Ðạt đã viết: “Quê hương tôi không ở bên kia, cũng không phải ở đây, mà ở đâu đó giữa hai nơi. Tôi rời VN quá sớm để có những kỷ niệm êm đềm với VN… Tôi không có nhiều gốc rễ ở bên kia, tôi cũng không có gì ở bên đây. Những người rời xa quê hương quá sớm đều không có nơi để trở về.”
Nhưng dẫu biết là như vậy nhưng những người như An, như tác giả Hoàng Mai Ðạt, hay bất cứ một người xa quê nào “vẫn cố gắng hòa nhập vào một quê hương mới mênh mông, với một tay bám theo tương lai xa cội nguồn và một tay nắm giữ những quá khứ chưa muốn dứt lìa. Hai dòng sống vẫn trôi nhanh, cách biệt, bất kể những bất hạnh, bất lực, những đắng cay và tiếng cười đứng bên cuộc đời. Tôi không thể cưỡng lại dòng sống ở bên đây, và tôi cũng không thể trở về dòng đời bên đó.”
Nắng đã tắt. Màn đêm đã buông. Trong cái mênh mông bất tận đến vô cùng, sóng vẫn rì rầm bài hát ngàn năm của biển khơi mang theo trong đó những câu chuyện, những linh hồn, những ước nguyện không bao giờ nguôi của những người có cùng tên gọi “Thuyền Nhân”…


